Thứ Năm, 4 tháng 10, 2018

MỘT LUẬN ĐIỆU SAI LẦM VÀ XUYÊN TẠC



Như chúng ta đã biết, thời gian vừa qua có quan điểm của một trong số những chính khách có tầm ảnh hưởng quốc tế đã cho rằng: “Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa tư bản đang diễn ra một cách cuồng nhiệt”. Đây là một trong những luận điệu mới, sai lầm và xuyên tạc, được các thế lực thù địch, trung tâm truyền thông loan truyền, nhằm chống lại thực tiễn xây dựng và thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam cũng như thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong 30 năm đổi mới xây dựng CNXH ở nước ta.
Đây là một luận điệu, một nhận định sai trái, xuyên tạc không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Những nội dung đó là:
Thứ nhất, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, thể chế chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và tự lựa chọn sáng suốt, nhất quán của nhân dân, của lịch sử dân tộc Việt Nam. Gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng lớn, rất quan trọng trong chủ nghĩa Mác-Lênin đã được V.I.Lênin đề cập trong “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. Tư tưởng vĩ đại của Lênin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức một cách khoa học và vận dụng rất sáng tạo. Theo Người thì “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Chân lý đó đã làm cho Người xúc động, vui mừng thốt lên: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ. Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.
Đây là lựa chọn con đường cứu nước và phát triển đất nước Việt Nam dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là sự chỉ dẫn trực tiếp của V.I.Lênin. Tư tưởng đúng đắn khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xác định con đường cứu nước vừa tôn trọng các giá trị lịch sử của dân tộc, đặc biệt kế thừa tinh thần yêu nước của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, vừa mang dấu ấn cá nhân của Người trong phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân và các anh hùng giải phóng dân tộc lên một tầm cao mới, giá trị của nó không chỉ có tầm dân tộc, mà còn tầm nhân loại và quốc tế. 
Chính nhờ sự lựa chọn sáng suốt đó nên đã được nhân dân ta, dân tộc ta và cán bộ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấp nhận sáng suốt sự lựa chọn đó ngay từ đầu cũng như suốt quá trình đấu tranh vì độc lập dân tộc và vì chủ nghĩa xã hội gần một thế kỷ qua.
Thứ hai, thực tiễn từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân rất khổ cực, nạn đói đã cướp đi sinh mệnh hàng triệu người con của dân tộc, qua ba mươi năm chiến tranh vô cùng ác liệt, chúng ta đã phải hy sinh nhiều của, nhiều người nhưng nhờ có sức mạnh của độc lập dân tộc và thành quả của chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã có một bước phát triển khá dài. 
Nếu ai khách quan, xuất phát từ thực tiễn sẽ đồng tình với sự nhận định của Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam: “Chúng ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới”.
Thứ ba, ở Việt Nam hiện nay đang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, sắp xếp lại, kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế, được khuyến khích phát triển, đang phát triển một cách sôi động; cùng với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đã bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước; kinh tế Việt Nam, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam phát triển nhưng phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng lên. Nhìn vào những hiện tượng đó, họ cho rằng Việt Nam đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là không có cơ sở khoa học và thực tiễn, hoàn toàn sai lầm và thiếu hiểu biết.
Chiến lược “diễn biến hòa bình”, trên cơ sở đó tác động nhiều mặt “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức, tư tưởng, hành đồng là âm mưu rất nguy hiểm, vô cùng xảo quyệt, thực hiện với hình thức đa dạng; làm xói mòn, mất lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, hoài nghi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từng bước tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong các tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang và nhân dân. 
Đặc biệt, họ dựa vào sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, suy giảm ý chí, quyết tâm của một bộ phận cán bộ đảng viên trong thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa để chống phá cách mạng Việt Nam.
 Quốc Hiền

NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP Nâng cao chất lượng đấu tranh trên không gian mạng




                                                                  

Như chúng ta đã biết trong xu thế bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay máy tính, điện thoại thông minh có kết nối internet đã trở thành phương tiện phổ biến và dễ dàng truy cập vào các trang mạng xã hội, là một “Kênh” tiếp nhận hàng ngày. Đây cũng là “Mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chuyển tải, phát tán những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, phản động. Vậy để nhận diện và xử lí đúng, có hiệu quả những thông tin xấu độc trong môi trường bùng nổ thông tin hiện nay là vấn đề được các cấp ủy, chỉ huy các cấp đặc biệt quan tâm.
1.     Nhận diện:
Xuyên tạc thông tin nhằm làm sai lệch bản chất của sự việc, hiện tượng là một việc làm thường xuyên của một nhóm người thuộc diện trục lợi hoặc thù địch với cách mạng Việt Nam. Họ thường dựa vào một số sự việc xảy ra trong đời sống xã hội để tìm cách thêm thắt, dắt dây, thổi phồng sự việc, làm sai lạc hoàn toàn bản chất của sự việc. Thủ đoạn này vốn không mới nhưng thực sự nguy hại, bởi nó làm cho môi trường thông tin trở nên lẫn lộn trắng đen, thật giả khó phân biệt.
Xem xét các thông tin mà một nhóm người chuyên tạo dựng và được hỗ trợ bởi một số trang báo mạng thì thấy:
Thứ nhất, hầu hết các thông tin đều ở dạng “mập mờ”, thiếu căn cứ, nên người đọc có muốn kiểm chứng cũng khó.
Thứ hai, thông tin trong các bài viết, video clip đều được thực hiện kiểu dẫn dắt vòng vo, thông tin nọ dính vào thông tin kia, sự việc  nọ gắn vào sự việc kia, nhắm tới mục tiêu cuối cùng là nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc vai trò của Nhà nước, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Có nhiều clip chỉ là một đoạn video hoặc là một vài hình ảnh tĩnh nhặt nhạnh trên mạng, sau đó được đối tượng cắt ghép, lặp qua, lặp lại tạo cớ minh họa cho lời bình.
2.     Một số giải pháp cần đề xuất:
Một là: Phải thường xuyên giáo dục cho cán bộ học viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ kiến thức và khoa học xã hội, khoa học nhân văn, có hiểu biết về công nghệ thông tin và các kỹ năng ứng dụng, truy cập mạng. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng 47 của nhà trường có nhiệm vụ nghiên cữu, thu thập thông tin, bài viết, hình ảnh, clip… có nội dung độc hại phản động để chuyển tải, giáo dục, định hướng cho cán bộ, học viên thông qua học tập, sinh hoạt.
Hai là: Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đầu tư mua sắm phương tiện nghe nhìn nhằm đa dạng hóa các kênh thông tin, nâng cao khả năng “Miễn dịch” cho cán bộ, học viên. Đa dạng hóa hình thức giáo dục, tập trung và định hướng kỹ năng tiếp cận thông tin có chọn lọc đối với những thông tin xấu độc, phản động, từ đó tránh được nguy cơ “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là: Thực hiện tốt phương châm 5 không “không nghe, không xem, không đọc, không tin, không tuyên truyền” các thông tin xấu độc, phản động của các thế lực thù địch.
Bốn là: Nâng cao khả năng “Tự đề kháng” và “Tự miễn dịch” cho cán bộ học viên trước những thông tin xấu độc. Để cho cán bộ học viên luôn nhận rõ âm mưu, bộ mặt thật của các thế lực thù địch, phản động, trên cơ sở đó nâng cao sức đề kháng và đấu tranh kiên quyết, hiệu quả với những thông tin xấu độc, phản động, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện./.
 Xuân Hùng

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC BÀI “GIÀ NỬA NHIỆM KỲ ÔNG TRỌNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐẾN ĐÂU”




Trên trang mạng blog bauxite Việt Nam, ngày 21/8/2018 đối tượng Phạm Chí Dũng đã tung ra bài viết với tựa đề “Già nửa nhiệm kỳ ông Trọng chống tham nhũng đến đâu”. Với mưu đồ nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong công cuộc chống tham nhũng (PCTN).
Để gây sự hoài nghi, dao động của công chúng, trong bài viết này, Phạm Chí Dũngđã bịa đặt, dựng ra nhiều tình tiết hạ thấp vai trò, quyết tâm của Đảng ta, đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong công cuộc chống tham nhũng, mà cho đó là để củng cố địa vị; đối tượng đã không thấy được những khó khăn,gian khổ, lâu dài, cam go, đầy thử thách vàkết quả đã đạt được trong phòng chống tham nhũng, công cuộc chống “giặc nội xâm”mà Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đang tiến hành.
Thực tế, từ năm 2014 đến nay, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực rõ rệt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kết quả nổi bật là vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong PCTN được nâng lên. Công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và PCTN được đẩy mạnh, vừa cảnh báo, răn đe, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện xử lý vi phạm. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các vi phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Ðảng và bộ máy Nhà nước, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả PCTN. Từ năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và 58.120 đảng viên, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái. Ngành thanh tra, kiểm toán tập trung thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh sai phạm, tiêu cực, tham nhũng; từ năm 2014 đến nay, qua thanh tra, kiểm toán, đã kiến nghị thu hồi hơn 260 nghìn tỷ đồng, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự hơn 340 vụ với 436 đối tượng.
Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đã chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp với những mức án nghiêm khắc và nhân văn, tích cực thu hồi tài sản tham nhũng; không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai. Từ năm 2014 đến nay, các cơ quan chức năng đã khởi tố 971 vụ án với 2.010 bị can; truy tố 1.060 vụ án với 2.444 bị can; xét xử sơ thẩm 968 vụ với 2.297 bị cáo về tội tham nhũng. Các phiên tòa xét xử ngày càng đổi mới theo hướng công khai dân chủ, minh bạch, coi trọng tranh tụng, nghiêm minh và nhân văn. Riêng các vụ án, vụ việc tham nhũng thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đến nay đã kết thúc điều tra, truy tố, đưa ra xét xử sơ thẩm 35 vụ với 440 bị cáo với các mức án nghiêm khắc; trong đó có 11 án tử hình cho 10 bị cáo, 20 án chung thân cho 19 bị cáo, bảy bị cáo với mức án tù 30 năm,… Năm 2016, tỷ lệ thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng đạt 26%, năm 2017 đạt 29,45%, sáu tháng đầu năm 2018 đạt 19%.
Công tác cải cách thủ tục hành chính ngày càng công khai minh bạch, các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đạt kết quả tích cực. Công tác cán bộ đổi mới theo hướng mở rộng dân chủ, nhất quán, chặt chẽ; hàng loạt văn bản về công tác cán bộ được ban hành, giải quyết nhiều tồn đọng, kiên quyết xóa bỏ tình trạng chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm cán bộ vi phạm, không còn “vùng cấm” nào. Công tác thông tin tuyên truyền được quan tâm, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông; vai trò trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân trong PCTN ngày càng được phát huy; các cơ quan chức năng PCTN được chú trọng kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Từ những kết quả trên, chúng ta thấy được vị trí, vai trò, quyết tâm vô cùng to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu Đảng ta về PCTN
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là công việc khó khăn, phức tạp và lâu dài; đò hỏi Đảng, Nhà nước các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải có quyết tâm chính trị cao; với những kết quả đã đạt được, công tác phòng, chống tham nhũng thời gian tới sẽ tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực, rõ rệt hơn nữa; tham nhũng nhất định sẽ được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và niềm mong đợi của nhân dân.
Hữu Phúc

TRĂM KIỂU XUYÊN TẠC XUNG QUANH VIỆC CHỦ TỊCH NƯỚC TRẦN ĐẠI QUANG QUA ĐỜI



Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã về với cõi vĩnh hằng, yên nghỉ nơi đất mẹ Ninh Bình, thế nhưng những kẻ độc mồm, độc miệng, lòng lang dạ sói, táng tận lương tâm... vẫn không ngớt những lời lẽ xuyên tạc, kích động về cái chết của ông và thái độ của những người còn sống, nhất là ban lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đối với sự ra đi của ông.
Sau khi một số cơ quan báo chí thông tin: “Ban tổ chức Lễ Quốc tang Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho biết, tính đến 17h hôm nay 26/9, đã có khoảng 1.500 đoàn trong nước, quốc tế với số lượng ước tính 50.000 người đến viếng cố Chủ tịch nước”. Thế là, ngay lập tức Nguyễn Xuân Diện, người mà nhiều người vẫn biết tới là “Tiến sĩ háng nôm” đã làm phép tính trên blog “Tễu” của mình. Diện “háng nôm” hắn tính: “1.500 đoàn trong nước, quốc tế viếng Chủ tịch nước Trần Đại Quang”; “Trong đó, khoảng 430 đoàn viếng tại hội trường Thống Nhất, TP HCM; trên 200 đoàn cùng hàng nghìn người dân vào viếng ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”. Tức là “khoảng gần 870 đoàn viếng tang tại Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội trong thời gian 548 phút (32.880 giây). Như vậy là khoảng thời gian giữa hai đoàn viếng 37,79 giây (làm tròn 40 giây).
Đúng là cách tính của một thằng ngu học, hắn chỉ tính các đoàn đến viếng ở Nhà tang lễ Quốc gia, Hội trường Thống nhất và huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, nó hoàn toàn không tính đến các đoàn viếng tại Đại sứ quán Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới. Ấy thế mà phép tính của hắn đã nhanh chóng đưa ra được hết quả. Đúng là thằng ngu đòi thích làm toán, đòi thích thể hiện. Hắn không biết rằng, đây là thống kê của Ban tổ chức Lễ Quốc tang, tức là tính cả các đoàn viếng ở trong nước và quốc tế, tại Đại sứ quán Việt Nam ở các nước. Thằng ngu thế nhưng lại cứ tỏ ra nguy hiểm.
Chưa dừng lại ở đó, một số kẻ còn cố tình cắt ghép hình ảnh, nào là nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “lườm” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ truy điệu; con dâu Chủ tịch nước “lườm” kẻ đã giết chết cha mình; Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bấm Kim Cang Ấn trước linh cữu Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Khi xem lại video thì điều người ta thấy là gì, đó là ông Nguyễn Tấn Dũng đang nhìn về hướng quan tài chứ không nhìn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hoàn toàn không có chuyện ông Dũng “lườm” ông Trọng tại lễ truy điệu như chúng cắt ghép. Thế mới thấy sự khốn nạn của chúng là như thế nào.
Chúng còn cố tình xuyên tạc chuyện “mồ mả” của Chủ tịch nước, nào là xây lăng mộ như vua chúa ngày xưa, nào là “Chủ tịch nước chết cống hiến cho người dân Việt nam đoạn đường nhựa dài 2km. Nếu ngày nào cũng có các đồng chí chết thì 1 năm sau cả nước toàn là đường nhựa”; “Con đường dẫn đến cái xác chết của quan thì nhanh chóng làm trong một ngày là xong 2km”...
Chúng nói vậy mà chúng không mở to mắt ra mà nhìn, mà tìm hiểu, trước khi qua đời không lâu (ngày 4/7/1826), vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ đã tự tay thiết kế bia mộ cho mình với những dòng chữ khiêm nhường nhưng kiêu hãnh: "Nơi đây yên nghỉ Thomas Jefferson - tác giả của Tuyên ngôn Độc lập, Đạo luật Tự do Tín ngưỡng của Virginia và người sáng lập nên Trường Đại học Tổng hợp Virginia". Hay như, mộ phần của Franklin và phu nhân Eleanor đơn giản nhưng nằm trong vườn hồng tại ngôi nhà của họ ở thị trấn Hyde Park. Tất cả đều là ý thích của mỗi người.
Còn lăng mộ của Abraham Lincoln (1809 - 1865) - vị Tổng thống Mỹ thứ 16 nằm ở trung tâm của một quả đồi rộng 51.000m², được kiến trúc sư Larkin Goldsmith Mead thiết kế, hoàn thành năm 1874 - 9 năm sau ngày mất của Tổng thống Lincoln.
Sử tô chúng nó chứ, chúng nó chỉ biết thêu dệt, biết xuyên tạc mà chúng không biết rằng, Chủ tịch nước thì rõ ràng không thể đem ra so sánh với một ông dân thường. Người ta có công, người ta ắt được hưởng, sao tổ sư chúng nó không làm đến Chủ tịch nước đi để được hưởng như vậy./.
 Đức Tấn


CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHÁP LUÂN CÔNG Ở VIỆT NAM




Với những thuật ngữ hết sức thuyết phục, dễ gây được thiện cảm và tạo được lòng tin của mọi người, thời gian qua đã có nhiều người dân tham gia tập luyện Pháp luân công (PLC) với mong muốn được cải thiện sức khỏe, chữa được bách bệnh. Tuy nhiên, thực chất của hoạt động PLC lại mang một màu sắc trái với mục đích ban đầu của nó…. Thực tế, đã có nhiều hậu quả trái chiều từ hoạt động PLC, phi thực tế, phản khoa học đã gây bức xúc dư luận và ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình ANTT. Vậy, PLC thực sự là cái gì mà khiến nhiều người dân vừa quan tâm tiếp cận lại vừa băn khoăn trước sự diễn biến của PLC hiện nay ở các địa phương?
Pháp luân công thực sự là gì?
Pháp luân công (PLC) hay Pháp luân đại pháp, do Lý Hồng Chí (SN1952, tại tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc hiện đang sống ở New York – Mỹ) sáng lập và bắt đầu phổ biến ra công chúng Trung Quốc vào năm 1992, sau đó lan truyền ra nhiều nước trên thế giới. PLC không phải là một tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật, cấu trúc tổ chức, nhà cầu nguyện, không có đối tượng và hoạt động thờ cúng. Sau khi ra đời, cùng với việc phát triển internet, thư điện tử và mạng lưới điện thoại di động, PLC đã phát triển và thu hút một số lượng lớn người tham gia tại Trung Quốc. Do tổ chức biểu tình và gây bạo loạn chính trị nên tháng 7-1999, PLC đã bị chính quyền Trung Quốc cấm hoạt động, các thành viên cốt cán của PLC trốn sang Mỹ, thành lập “Tổng hội PLC” với hệ thống đài phát thanh, truyền hình, báo chí, trang Web riêng và mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam để tuyên truyền, lôi kéo, kích động người tham gia PLC thực hiện các hoạt động chống phá Trung Quốc.
PLC xâm nhập trái phép vào Việt Nam từ năm 2000. Với sự hỗ trợ của các đối tượng PLC ở nước ngoài, số đối tượng cầm đầu các điểm nhóm PLC trong nước đã tập trung đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, tán phát tài liệu, lôi kéo người tham gia PLC gây phức tạp tình hình ANTT tại nhiều địa phương. Các đối tượng thường lợi dụng PLC để tuyên truyền, kích động chống Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc làm ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam – Trung Quốc, nhất là triệt để lợi dụng tình hình chính trị nhạy cảm liên quan chủ quyền biển đảo, sự cố ô nhiễm môi trường biển xảy ra tại 4 tỉnh miền Trung… Do đó, mọi người hãy cảnh giác trước hoạt động của PLC, đừng trở thành công cụ để họ lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của mình, tuyên truyền cho gia đình, bạn bè không tham gia các hoạt động của PLC, góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương./.
Quốc Thọ


Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng



Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) là một chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, vừa thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, vừa cho thấy ý thức, trách nhiệm chính trị của quân đội trong việc quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Chức năng cơ bản đó của QĐND Việt Nam được xác lập quy định ngay từ ngày đầu thành lập và được khẳng định, phát huy trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu, trưởng thành hơn 70 năm qua. Bởi vậy, dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, Quân đội ta luôn chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng hình thức, biện pháp phù hợp, đúng định hướng của Đảng. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

I. Vì sao quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế

1. Cơ sở lý luận

Thứ nhất, quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tếlà thực hiện Lời dạy của Bác Hồ – Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang: Quân đội phải chiến đấu giỏi, công tác giỏi và lao động sản xuất giỏi; “cái gì có lợi cho nhân dân thì cố gắng để làm cho tốt”; thực hiện tốt phương châm “vì nhân dân phục vụ !”; thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước giao phó cho quân đội.
Thứ hai, quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tếlà thực hiện ba chức năng của Quân đội: là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, đã được ghi vào các Văn kiện Đảng, Nhà nước; đã được Đảng, Nhà nước, nhân dân và một số chuyên gia nước ngoài, thừa nhận tính hiệu quả của Quân đội ta khi tham gia lao động, xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh.
Thứ ba, quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tếlà hiện thực hóa quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc Việt Nam với sự vận dụng sáng tạo chính sách “ngụ binh ư nông” của ông cha ta qua hàng ngàn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước; là sự cụ thể hóa hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam “xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” mà Đảng ta đã khẳng định tại Đại hội V (năm 1982) đến nay.
Thứ tư, quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tếlà góp phần làm ra của cải vật chất, trước hết là nâng cao đời sống cho bộ đội, không ngừng cải thiện, nâng cao chất lương bữa ăn, bồi dưỡng sức khỏe bộ đội; tu bổ nơi ở, nơi làm việc, củng cố trận địa, thao trường, bãi tập; qua đó, phát triển KT-XH, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là làm cho Quân đội ta mạnh lên; góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tóm lại, quân đội ta tham gia sản xuất, phát triển kinh tếkhông phải là ý muốn chủ quan mà là sự quy định của điều kiện lịch sử và bản chất, truyền thống, chức năng của quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, đã được lịch sử hơn 70 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta khẳng định; là nhu cầu thực tế của xã hội, yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho Quân đội. Những người có quan điểm sai trái, đối lập với Đảng, Nhà nước như đã nêu trên là nhằm chống Đảng, Nhà nước, Quân đội ta, là hướng đến cái đích thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, thực hiện “dân sự hóa quân đội” cần phải phê phán, bác bỏ.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mặc dù chiến tranh ác liệt, nhưng Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, tích cực tăng gia, sản xuất cải thiện đời sống bộ đội; tham gia sản xuất xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, xây dựng căn cứ hậu cần tại chỗ trên các vùng chiến lược, thực hiện tốt chủ trương, đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam” của Đảng. Sau khi đất nước thống nhất, quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, tham gia đắc lực vào hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển KT-XH, nhất là trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

II. Quân đội trong tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng

1. Thành tựu
Nhìn lại chặng đường xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội, trong bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu quả.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quán triệt quan điểm “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, các đơn vị Quân đội đã tích cực lao động sản xuất, đảm bảo “thực túc binh cường”, thiết thực cải thiện đời sống của bộ đội; đặc biệt, các cơ sở quân giới đã nêu cao tinh thần tự lực tự cường, tích cực nghiên cứu, cải tiến, chế tạo hàng chục triệu tấn vũ khí, đạn dược, kịp thời đáp ứng yêu cầu tác chiến của lực lượng vũ trang và sự phát triển của chiến tranh nhân dân trên các chiến trường.
Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, gần 08 vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã chuyển sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, trực tiếp tham gia xây dựng những công trình trọng điểm của đất nước, như: Khu công nghiệp Việt Trì, Nhà máy gang thép Thái Nguyên, Đại thủy nông Bắc Hưng Hải,v.v.
Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Quốc phòng đã bàn giao 29 nông trường và gần 04 vạn cán bộ, chiến sĩ, công nhân cho Bộ Nông nghiệp quản lý; đồng thời, chuyển hướng nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế vào trọng tâm xây dựng căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là các địa bàn chiến lược Khu 5, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ... Trong giai đoạn này, Bộ Quốc phòng đã thành lập 20 trung đoàn tổ chức sản xuất, cung cấp hậu cần cho các chiến trường; đặc biệt, lực lượng bộ đội Trường Sơn đã xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng vạn ki-lô-mét đường bộ, đường sông, đường ống, mở tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), Quân đội là lực lượng xung kích hàn gắn vết thương chiến tranh, tham gia phát triển kinh tế - xã hội với gần 28 vạn cán bộ, chiến sĩ chuyển sang thực hiện nhiệm vụ quan trọng này và đã hoàn thành nhiều chương trình, dự án trọng điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên địa bàn cả nước.
Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng được Đại hội VI đề ra: “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, ngày 26-4-2002, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/ĐUQSTW “về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội - Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; tiếp đó là Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”, Nghị quyết 425-NQ/QUTW, ngày 18-5-2017 của Quân ủy Trung ương về “Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và sự chỉ đạo sâu sát của Bộ Quốc phòng, Quân đội đã phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, phát triển đất nước. Nổi bật là, Quân đội đã tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng và thế trận quốc phòng toàn dân trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, đảo, trong đó trọng tâm là triển khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng.
Các doanh nghiệp Quân đội không ngừng đổi mới, phát triển, hội nhập, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh kết hợp với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sau khi sắp xếp lại, các doanh nghiệp Quân đội tiếp tục giữ vững sự ổn định, phát triển, tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hiệu quả tăng lên, giữ gìn và phát triển tiềm lực quốc phòng, bảo đảm tốt việc làm và tăng thu nhập của người lao động. Doanh nghiệp Quân đội có thương hiệu, chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra nước ngoài ngày càng nhiều, trở thành đối tác kinh tế quốc tế có uy tín, góp phần đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế. Các doanh nghiệp quân đội đã và đang khẳng định rõ vị thế trong nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo đảm an sinh xã hội.
Các đơn vị thường trực, đơn vị sự nghiệp có thu, cùng với đặt trọng tâm vào thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đã chủ động tổ chức bộ máy, tận dụng năng lực dôi dư để tham gia sản xuất kinh tế gắn với nhiệm vụ chuyên môn, góp phần cung cấp nguồn nhân lực, công nghệ và dịch vụ có chất lượng cho xã hội. Trong đó, nhiều đơn vị đảm bảo được phần lớn chi phí thường xuyên, góp phần tăng cường các hoạt động sự nghiệp, cải thiện đời sống cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng và người lao động. Hoạt động kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư và thương mại được đẩy mạnh.
Công tác quản lý, sử dụng đất quốc phòng đảm bảo chặt chẽ, đúng mục đích; đối với đất quốc phòng chưa sử dụng ngay cho nhiệm vụ quốc phòng, được tận dụng vào hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế đảm bảo thực hiện đúng quy định, lộ trình và kịp thời chấn chỉnh những sai sót.
Sáng ngày 12/7/2017, phát biểu tại buổi làm việcvới Quân cảng Sài Gòn - Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn, thuộc Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Ngô Xuân Lịch- Bộ trưởng BQP đã khẳng định: quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam. Thực tiễn hơn 70 năm trưởng thành, phát triển của quân đội ta cho thấy quân đội ta luôn hoàn thành nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và cũng là đội quân lao động sản xuất, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. 
Đại tướng Ngô Xuân Lịch nhấn mạnh: quân đội tham gia xây dựng kinh tế là kết hợp, phục vụ nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, củng cố sức mạnh quốc phòng, gia tăng tiềm lực của quốc gia, tích cực góp phần phát triển tính tự chủ của đất nước trong trang bị khí tài quân sự, quốc phòng và trực tiếp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. 
Những kết quả đạt được của Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế có ý nghĩa quan trọng, không những góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, cải thiện đời sống của bộ đội, công nhân và viên chức quốc phòng, người lao động, mà còn đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước; qua đó, thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trên “mặt trận lao động sản xuất”, củng cố niềm tin của nhân dân, của Đảng và Nhà nước đối với Quân đội.
          2. Hạn chế
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này, Quân đội vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót, như: nhận thức của một số cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế chưa đầy đủ; trách nhiệm của một số cấp ủy, chỉ huy đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo có mặt còn hạn chế; cơ chế quản lý, mục tiêu xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, tiến độ xây dựng chậm so với quy hoạch đã được phê duyệt; việc kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quân đội và hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp chưa thường xuyên và chặt chẽ; hiệu quả sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệp đạt thấp; tiến độ cổ phần hóa còn chậm so với yêu cầu; công tác quản lý, sử dụng đất quốc phòng vào mục đích kinh tế của một số cơ quan, đơn vị chưa chặt chẽ…
Thực tiễn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội và những kết quả đạt được đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc huy động quân đội tham gia xây dựng kinh tế; cho thấy Quân đội ta luôn quán triệt, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, vừa làm tròn vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển KT-XH, vừa tham gia tích cực, có hiệu quả vào công cuộc đó. Mặc dù còn những khuyết điểm, thiếu sót, song với những kết quả quan trọng đạt được trên “mặt trận lao động sản xuất” những năm qua cho thấy, quân đội đã thực sự trở thành một nguồn lực của đất nước trong phát triển KT-XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là lực lượng nòng cốt giải quyết các vấn đề khó khăn về quốc phòng-an ninh, KT-XH trên các địa bàn chiến lược, nơi biên giới, hải đảo, vùng biển đặc quyền kinh tế của Tổ quốc. Thông qua sản xuất, xây dựng kinh tế, quân đội đã góp phần điều chỉnh lại lực lượng sản xuất trên các vùng, miền, phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH và mục tiêu quốc phòng, tạo nên thế trận KTQP vững mạnh trên các địa bàn chiến lược, nơi phên giậu của đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tạo ra nguồn của cải vật chất đáng kể cho xã hội, nguồn thu bổ sung cho ngân sách quốc phòng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tăng cường nguồn lực cho phát triển. Đồng thời, tạo ra điều kiện vật chất, kỹ thuật, công nghệ cho xây dựng lực lượng, thế trận, tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc,...
III. Một số gải pháp chủ yếu
1. Đặc điểm tình hình
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ tiếp tục diễn biến rất phức tạp, khó lường, khó dự báo, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, tác động sâu sắc đến môi trường, quan hệ quốc tế, khu vực và Việt Nam. Đối với nước ta, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen; tình hình chính trị - xã hội ổn định; kinh tế tiếp tục tăng trưởng; quốc phòng, an ninh được củng cố; quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, kinh tế còn nhiều khó khăn, tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định; các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội, tăng cường tuyên truyền xuyên tạc, hạ thấp uy tín Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, Quân đội với nhân dân, Quân đội với Công an... Trước tình hình đó, Quân đội nhân dân cùng với việc tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước.
          2. Giải pháp chủ yếu
Một là, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, người lao động đối với nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội.
Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công nhân và viên chức quốc phòng, người lao động; từ đó, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, phát triển đất nước. Nội dung giáo dục cần tập trung làm rõ chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, quan điểm của Đảng, chủ trương của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, cũng như vai trò quan trọng của Quân đội trong việc tham gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nhất là trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Toàn quân cần nhận thức sâu sắc: tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách đảm bảo cho quốc phòng hạn hẹp, việc Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là cần thiết, quan trọng. Nhưng, Quân đội không làm kinh tế một cách đơn thuần, mà luôn gắn với quốc phòng theo tư tưởng chỉ đạo: kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.
Công tác tuyên truyền giáo dục về nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội cần được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng loại hình đơn vị, doanh nghiệp. Qua đó, để bộ đội và nhân dân thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ này và thực chất của vấn đề Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội; đồng thời, phản bác, làm thất bại mọi sự xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động nhằm vào Quân đội ta.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế.
Đây là vấn đề nguyên tắc và là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, đảm bảo cho mọi hoạt động tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội đúng định hướng chỉ đạo, đạt hiệu quả cao. Các đơn vị trong toàn quân, trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết về quân đội tham gia sản xuất phát triển kinh tế-xã hội, trên cơ sở đó, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt bằng nhiều biện pháp đồng bộ, đạt hiệu quả cao.
Trong quá trình thực hiện, các đơn vị, doanh nghiệp Quân đội cần nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, thực hiện “Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội” mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định, chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng.
Đối với các đơn vị kinh tế - quốc phòng, doanh nghiệp Quân đội, trong thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, phải đồng thời coi trọng nhiệm vụ quốc phòng; khắc phục mọi biểu hiện, nhận thức lệch lạc kinh tế đơn thuần, không được để xảy ra tình trạng hoạt động kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động quân sự, quốc phòng và ngược lại.
Ba là, tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược.
Triển khai dự án khu kinh tế - quốc phòng là chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng, Nhà nước; đồng thời, là sự thể chế hóa quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong thực tiễn.
Thực tiễn hoạt động của các khu kinh tế - quốc  phòng đã khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh. Trong thời gian tới, cần tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng theo Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển các khu kinh tế - quốc phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, coi trọng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên hướng biển, đảo xa bờ, xây dựng một số mô hình điểm tại các khu kinh tế - quốc phòng đang hoạt động để rút kinh nghiệm, có giải pháp phù hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Các đoàn kinh tế - quốc phòng phải luôn bám sát mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng khu kinh tế - quốc phòng để bảo đảm hoạt động đúng hướng, hiệu quả, sẵn sàng chuyển trạng thái khi có tình huống.
Bốn là, cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Quân đội, gắn với giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng.
Trong thời gian tới, các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị có liên quan cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; trên cơ sở đó, tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 425-NQ/QUTW, trọng tâm là thực hiện tốt Đề án “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội đến năm 2020”. Trong đó, kiên quyết cổ phần hóa, thoái vốn triệt để đối với doanh nghiệp ít liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng; giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả.
Các doanh nghiệp Quân đội cần rà soát, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp với mô hình hoạt động; tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới quản trị doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; đảm bảo dù sản xuất, kinh doanh ở đâu, lĩnh vực nào, cũng luôn chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, giữ vững bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thương hiệu doanh nghiệp Quân đội, phấn đấu trở thành những doanh nghiệp mạnh, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đáp ứng ngày càng tốt hơn cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
Cùng với đó, toàn quân tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thực hiện tốt việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng. Trong đó, đặc biệt chú trọng quản lý, giám sát chặt chẽ việc sử dụng đất vào hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; quản lý đất quốc phòng tại các doanh nghiệp Quân đội và doanh nghiệp Quân đội thực hiện cổ phần hóa hoặc giải thể, phá sản trong quá trình sắp xếp, đổi mới.
Năm là, chủ động đấu tranh, phản bác các luận điểm sai trái, thù địch nhằm hạ thấp vai trò, uy tín, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.
Quân đội là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Do đó, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động luôn xác định Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những mục tiêu trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chúng. Để theo đuổi mục tiêu đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động tăng cường các hoạt động chống phá Quân đội ta bằng mọi hình thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Cùng với việc thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, làm cho Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Quân đội, làm lung lạc niềm tin của nhân dân đối với “Bộ đội Cụ Hồ”. Đặc biệt, gần đây, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc về Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, quản lý, sử dụng đất quốc phòng, với mục đích làm “nóng” dư luận xã hội, hiểu sai lệch hoặc không đầy đủ về bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội.

IV. Đấu tranh chống quan điểm "Quân đội không được làm kinh tế, chỉ tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc"

Trong thời gian qua, lợi dụng Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) ra Nghị quyết về “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, một số trang mạng xã hội đã liên tiếp đăng tải những bài viết xuyên tạc, phủ nhận về vai trò của quân đội tham gia vào hoạt động kinh tế, đưa ra những luận điệu dưới dạng mật mờ như: “quân đội làm kinh tế – phúc và họa”, để hướng lái dư luận theo quan điểm sai trái rằng: “quân đội không nên làm kinh tế”.
Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, chúng kêu gọi quân đội không được làm kinh tế, chỉ tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chúng cho rằng nếu quân đội tham gia hoạt động sản xuất kinh tế sẽ nảy sinh tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi và làm suy yếu sức mạnh quân đội. Hoặc cho rằng, nay đất nước đã phát triển, quân đội không phải làm kinh tế và ưu tiên tập trung cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu như quân đội các nước tư bản. Đây là âm mưu vô cùng thâm độc, phủ nhận chức năng, vai trò của quân đội từ bản chất.
Chúng ta phải hiểu rằng Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là chủ trương chiến lược lâu dài, nhất quán của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng-an ninh. Phát triển kinh tế-xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng-an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng-an ninh, quốc phòng-an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội và trên từng địa bàn”. Tại Điều 68, Chương IV (Bảo vệ Tổ quốc), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”. Tại khoàn 3, Điều 5 (Nguyên tắc hoạt động quốc phòng), Chương 1 (Những quy định chung) của Luật Quốc phòng năm 2005 xã định: “Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng; giữa tăng cường quốc phòng với phát triển kinh tế-xã hội”
Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội được Đảng và Bác Hồ giao, đó là “Đội quân chiến đấu, quân đội công tác và đội quân lao động sản xuất”, thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội. Nhìn lại chặng đường hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, chúng ta hết sức phấn khởi tự hàng rằng, trong bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Thông qua đó, khẳng định Quân đội ta không chỉ anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, mà còn rất cần cù, sáng tạo, hiệu quả trong lao động sản xuất. Những chiến công và thành tích của Quân đội trong thực hiện chức năng “Quân đội lao động sản xuất” - một yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân và đã góp phần làm sáng đẹp hơn hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.
Từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong tình hình mới. Quân đội ta tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã thực sự trở thành một nguồn lực quan trọng của đất nước trong phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần gia tăng thêm tiềm lực quốc gia; củng cố vị thế độc lập, tự chủ của đất nước và công nghiệp quốc phòng, trang bị vũ khí, khí tài cho Quân đội; tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của đất nước thông qua sự hợp tác với bên ngoài; là lực lượng nòng cốt giải quyết các vấn đề khó khăn về quốc phòng, an ninh, kinh tế- xã hội trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng biển đặc quyền kinh tế của Tổ quốc...
Trong khi đó, bản chất các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế của quân đội là thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, là kinh tế Nhà nước. Vì vậy, quân đội tham gia phát triển kinh tế là đúng pháp luật, cũng là đúng với đường lối, chủ trương của Đảng.
Từ những vấn đề nêu trên mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cũng như mỗi người dân Việt Nam cần phải bản lĩnh, cảnh giác trước những luận điệu sai trái của thế lực thù địch. Luôn quán triệt và thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là đường lối quân sự, quốc phòng. Tích cực tham gia đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta.
Nhận thức đúng chức năng, nhiệm vụ, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và phát huy những kinh nghiệm, kết quả đạt được, toàn quân tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới. Qua đó, làm sâu sắc thêm bản chất cách mạng, truyền thống của QĐND Việt Nam anh hùng, thiết thực góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Hồng Tuấn


ĐẬP TAN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ SỰ RA ĐI CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRẦN ĐẠI QUANG



Nói cho cùng, “có sinh ắt có tử”, sống chết là quy luật của đất trời. Do đó, sự ra đi của Chủ tịch nước ở tuổi 62 dù có bất ngờ, bởi ông còn quá trẻ. Tuy nhiên, không bất ngờ ở chỗ ông mang trọng bệnh. “Sinh – Lão – Bệnh – Tử” đó là quy luật của tự nhiên, không ai có thể tránh khỏi được vòng luân hồi. Vì thế, có thể hiểu việc Chủ tịch nước ra đi rất đời thường cũng là chuyện bình thường của tạo hóa.
Hiện nay, sự ra đi của Chủ tịch nước Trần Đại Quang lúc này đang là đề tài rất nóng trên mạng xã hội đối với người dân để tỏ lòng tiếc thương vị Chủ tịch nước đáng kính của mình, thì lại có những kẻ ba que chuyên kiếm cớ để “chọc ngoáy” nhằm bôi nhọ chế độ, nói xấu chính quyền đó là điều dễ hiểu và biết trước… Chúng đang lợi dụng sự ra đi của CTN để thể hiện dã tâm thâm độc, đầy ác ý, một âm mưu chính trị đê hèn khi tung tin thất thiệt lúc này để gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự “hoài nghi” trong dư luận xã hội về nguyên nhân cái chết của CTN là do “đầu độc”, sự ra đi của ông là do “đấu đá” nội bộ, tranh giành quyền lực… trong chính quyền, đó là cái chết oan uổng của một chính trị gia Cộng sản và rỏ nước mắt “cá Sấu”….tiếc thương nhằm kích động người dân…”.
Nghĩa tử là nghĩa tận, mang đậm nét nhân văn, truyền thống văn hóa hóa Việt, đó là đạo lý tốt đẹp muôn đời nay của dân tộc ta. Thế nhưng, lại có những kẻ “táng tận lương tâm” người Việt chúng lại dùng từ ngữ đê tiện nhất… để nhục mạ với người đã khuất, người thường đã không thể chấp nhận được, đây lại là Nguyên thủ Quốc gia, Chủ Tịch nước… Một hành vi khốn nạn đến tột cùng của những kẻ bất lương, cần phải lên án mạnh mẽ.
Không những thế, cứ như thông lệ “Cầm đèn chạy trước Ô tô” Chúng lại le te “ăn ốc nói mò”, dự kiến nâng “Ông nọ, nhấc Bà kia” vào cái chức Chủ tịch nước tới đây… nhằm chia rẽ nội bộ Đảng và chính quyền, công an với quân đội và chia rẽ lòng dân với Đảng. Vì thế, để thể hiện lòng tiếc thương trước sự ra đi của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, người dân Việt chân chính, hãy biến đau thương thành hành động, sức mạnh, đề cao cảnh giác trước âm mưu đê tiện của các thế lực thù địch, những kẻ chống phá đất nước kiên quyết làm thất bại âm mưu của chúng.
Với những cống hiến của CTN, Không chỉ có những lời lẽ tình cảm ấm áp trong sổ tang mà ngay trong ngày diễn ra lễ tang, mà đã có hàng nghìn đoàn trong nước và quốc tế đến viếng Cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mặc cho cái nắng oi ả ban ngày, dòng người kéo dài từ cổng đến nhà tang lễ vẫn không có dấu hiệu dừng lại. Bất chấp trời mưa lớn, nhiều đoàn đại biểu và nhân dân vẫn kiên nhẫn xếp hàng chờ vào viếng Cố Chủ tịch nước. Tình yêu, lòng mến mộ, nỗi xót thương hóa thành những nghĩa cử cao đẹp làm xúc động lòng người.
Hãy, để cho hương hồn Chủ tịch nước Trần Đại Quang người con ưu tú của dân tộc, vị Đại tướng Công an nhân dân đáng kính, được yên giấc ngàn thu ở cõi vĩnh hằng, cho linh hồn ông được siêu thoát… Đừng, vì mục đích chính trị đê hèn, để cố “Bôi vẽ, bịa đặt” cái chết của Chủ tịch nước, đó là tội lỗi không thể tha thứ… Đừng tự biến mình thành kẻ vô lương tâm “ăn mày trên xác chết”, hành vi như vậy chẳng khác gì loài cầm thú, tội đồ của dân tộc.

 Công Mão


Nâng cao chất lượng trong phòng chống diễn biến hòa bình



Để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan, đơn vị các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Quân chủng về công tác bảo đảm an toàn thông tin, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ và các văn bản khác có liên quan đến công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ nâng cao bản lĩnh chính trị, tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, nhận thức sâu sắc nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đồng thời nêu cao ý thức cảnh giác, nhận rõ và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tích cực bảo vệ mình, bảo vệ nội bộ cơ quan, đơn vị.
Quản lý chặt chẽ tình hình của cơ quan, đơn vị, các mối quan hệ quân nhân, việc sử dụng các thiết bị điện tử thông minh của các đối tượng trong cơ quan, đơn vị. Khi phát hiện các thông tin, hình ảnh, clip có nội dung xấu đến Quân đội bị phát tán trên mạng xã hội, Internet, kịp thời báo cáo cấp trên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ kịp thời, không để tán phát trên các trang mạng xã hội và Internet. Chủ động nắm, quản lý, dự báo, thông tin định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các thông tin xấu độc, ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội.
Chỉ đạo, phát huy vai trò các cơ quan chức năng, cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí, các học viện, nhà trường; đội ngũ cán bộ, giảng viên, các nhà khoa học và “Lực lượng 47” trong Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chuyên sâu; mở rộng chia sẻ, bình luận, lan tỏa thông tin tích cực trên không gian mạng; tăng cường đấu tranh trước các luận điệu chống phá Quân đội của các thế lực thù địch; tuyên truyền sâu rộng bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, những tấm gương bình dị, cao quý, hành động dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, gương người tốt, việc tốt…
Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng địa phương nắm chắc tình hình ANCT, TTATXH và âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của kẻ địch và phần tử xấu trên địa bàn đóng quân; chủ động xây dựng kế hoạch, phương án phối hợp xử lý tốt các vụ việc, tình huống phức tạp xảy ra, giữ vững đơn vị an toàn, địa bàn an toàn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Anh Hào

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BỊA ĐẶT, DỐI TRÁ CỦA LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG TRƯỚC TỪ TRẦN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRẦN ĐẠI QUANG



Thông tin về Chủ Tịch nước Trần Đại Quang từ trần không có gì là đột ngột; bởi Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe Trung ương phát hiện bệnh của Chủ tịch nước từ tháng 7 năm 2017. Từ đó đến khi qua đời Chủ tịch nước đã trải qua sáu lần điều trị tại Nhật bản; sau chuyến thăm một số nước Châu phi trở về sức khỏe của Chủ tich kém đi rất nhiều và sự ra đi của Chủ tịch nước như một điển “gở” báo trước.
 Sự ra đi cử Chủ tịch nước là nổi buồn, tiếc thương vô hạn của đát nước, người dân Việt Nam trước căn bệnh hiểm nghèo mang trong người đã được phát hiện từ lâu. Thế mà một số thế lực thù địch coi đó là điểm nóng hòng chọc ngoáy, bôi nhọ, nói xấu chính quyền; với thông tin, mưu đồ hoài nghi, một âm mưu chính trị đê hèn để gây nhiễu loạn tạo sự hoài nghi trong dư luận xã hội về nguyên nhân cái chết của Chủ tịch nước là do ‘dầu độc”, hay là sự đấu đá quyền lực trong chính quyền Cộng sản.
Những thông tin bịa đặt trên là hoàn toàn sai trái của các lực lượng phản động nhằm chia rẽ đoàn kết nội bộ, “Diễn biến hòa bình” tạo nên sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của đảng trong giai đoạn cách mạnh hiện nay với nhiều thánh thức trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch nước của chúng ta làm việc vì đất nước, vì nhân dân đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, sự nỗ lực cố gắng hết mình công lao đó không có gì sánh nỗi. Với khí chất là một người cán bộ trong lực lượng an ninh nhân dân với đức tính hi sinh cho đất nước, cho dân tộc; một cán bộ, đảng viên kiên trung, tận tuy công việc của minh. Vì thế để thể hiện lòng tiếc thương trước sự ra đi của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, người dân Việt chân chính, hãy biến đau thương thành hành động, sức mạnh, đoàn kết dân tộc; đề cao cảnh giác trước âm mưu đê hèn của các thế lực thù địch, những kẻ chống phá cách mạng nước ta, kiên quyết làm thất bai âm mưu thủ đoạn của chúng xây dựng đát nước Viêt Nam đi theo con đừng Chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

                                                                                                                 KHẮC HÙNG











ĐỪNG COI TÔN GIÁO LÀ MỘT THẾ LỰC ĐỂ LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC




Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh với “thiên tai, địch họa”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Tuy nhiên,thời gian gần đây có một số chính trị gia mang tư tưởng cực hữu, thù địch phương Tây, một số tổ chức khủng bố như “Việt tân” và phần tử cơ hội chính trị trong nước, đã xác định tôn giáo ở Việt Nam là một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và lôi kéo quần chúng. Do vậy, các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ, hậu thuẫn cho những đối tượng chống đối trong các tôn giáo, có những hoạt động chống phá Đảng, nhà nước ta quyết liệt hơn hòng đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hóa” nhằm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.Để chống phá, họ đưa ra một số luận điệu cơ bản vu cáo Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo, mục đích là xuyên tạc tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, phủ nhận chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhất là từ khi giành được chính quyền đến nay, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh cụ thể nào, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước. Vậy nên, trong các Nghị quyết lãnh đạo, Đảng ta đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, làm cho các tôn giáo luôn gắn bó với dân tộc, chống lại các luận điệu xuyên tạc, vu khống, chia rẽ.
                                                                       Quang Quế