Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

Xây dựng mô hình Nhà nước theo học thuyết “tam quyền phân lập” có làm tăng hiệu quả, hiệu lực hoạt động tư pháp Việt Nam?


Trong những ngày gần đây, trên một số trang mạng xã hội các đối tượng cơ hội, phản động đã có các bài viết xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực tư pháp; phủ nhận những thành tựu đạt được trong công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đồng thời kêu gọi Việt Nam cần thực hiện mô hình nhà nước kiểu “tam quyền phân lập”.

Họ cho rằng cơ quan tư pháp Việt Nam mà cụ thể là hệ thống tòa án, thẩm phán các cấp đều chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, can thiệp của các cấp ủy đảng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương vào công việc xét xử dẫn đến nhiều vụ án oan sai, tiêu cực,...

Đây là những luận điệu rất sai lầm về bản chất lãnh đạo của Đảng với hoạt động quản lý của Nhà nước. Bởi vì, trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; “các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, Đảng lãnh đạo hoạt động tư pháp bằng chủ trương, đường lối, quy hoạch, kế hoạch để nền tư pháp của nhà nước ta hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả hơn chứ tuyệt nhiên Đảng và bất kỳ một tổ chức đảng nào đều không được quyền can thiệp vào hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử của thẩm phán nói riêng.

Thực tiễn thời gian qua, hoạt động xét xử của một số tòa án còn trường hợp oan sai nhưng đó chỉ là số rất ít trong tổng số hàng nghìn, hàng vạn vụ án được thụ lý và xét xử ở các cấp. Chất lượng xét xử ngày được nâng cao theo thời gian bảo đảm đúng pháp luật, trình tự, thủ tục quy định của các Bộ luật do Nhà nước ban hành; những sai lầm, khuyết điểm đã được chỉ ra và khắc phục kịp thời.

Ngoài ra, các phần tử phản động còn cho rằng Nhà nước ta nên tổ chức theo mô hình “tam quyền phân lập” để thực hiện quyền độc lập tuyệt đối giữa 3 nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhằm kiểm soát quyền lực lẫn nhau của 3 cơ quan, từ đó làm hoạt động xét xử của tòa án khách quan, công bằng hơn,... Tuy nhiên, bản chất sâu xa thì đây cũng là một âm mưu hòng làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm cho quyền lực Nhà nước bị chia rẽ và thao túng vào một số cá nhân, trái với Điều 2, Hiến pháp năm 2013 là “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”; “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Từ phân tích trên, mỗi người dân Việt Nam chúng ta cần phải tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật; đấu tranh làm thất bại thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN BỨC TRANH KINH TẾ VIỆT NAM


Sau khi Tổng cục Thống kê công bố: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2022 của Việt Nam ước tăng 8,02%  so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 do nền kinh tế khôi phục trở lại thì các thế lực thù địch và một số phần tử chống đối lại hậm hực. Với âm mưu làm giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ, chúng ra sức “bôi đen bức tranh kinh tế” của đất nước.Một số người do không hiểu tình hình Việt Nam hoặc cố tình xuyên tạc sự thật đã “phát biểu” trên mạng xã hội và báo chí nước ngoài rằng, “Việt Nam nhào nặn số liệu thống kê” là hoàn toàn sai trái, bởi chính họ đã “nhào nặn méo mó”, “bôi đen” bức tranh kinh tế Việt Nam.

Thực ra âm mưu đằng sau việc “bôi đen bức tranh kinh tế” Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Họ cố tình “bôi đen bức tranh kinh tế” để qua đó làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào chế độ ưu việt mà nhân dân ta đã và đang xây dựng.

Nhưng năm nay, chúng lại đưa ra những thủ đoạn mới. Chúng đã tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các thông tin xấu, độc này.

Vào ngày làm việc đầu tiên của năm mới 2023, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với địa phương tổng kết công tác năm 2022 và triển khai kết luận của Trung ương, nghị quyết của Quốc hội khóa XV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023.Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Năm 2022 tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ. Nền kinh tế chịu tác động tiêu cực kép cả từ bên ngoài và bên trong đến cùng một thời điểm. Trong bối cảnh đó, chúng ta đã đoàn kết, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt, với quyết tâm và nỗ lực lớn, hành động quyết liệt để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Thế nhưng, có một thực tế là chúng ta càng thành công thì các thế lực thù địch càng tức tối, càng tăng cường chống phá. Vì vậy, cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG TA


Vừa qua xuất hiện bài viết “Chung quanh vụ thanh trừng Phạm Bình Minh – Vũ Đức Đam” đăng trên Bureau CTM Media – Âu Châu của Hiếu Chân.Thật ra chỉ là những suy diễn và xuyên tạc bản chất vấn đề Phó Theủ tướng thường trực Phạm Bình Minh thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII và Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam thôi chức Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII theo kết quả biểu quyết tại phiên họp bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 30/12/2022.

Thực tế cho thấy rằng, là năm thứ hai cả nước triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, một trong những dấu ấn nổi bật trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, công tác cán bộ nói riêng của năm 2022 chính là việc Đảng đã kịp thời ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết quan trọng, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra và nhanh chóng triển khai trong thực tiễn. Năm 2022 là năm lần đầu tiên tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, Ban chấp hành Trung ương đã cho thôi tham gia Ban Chấp hành đối với 3 Ủy viên Ban chấp hành Trung ương đương nhiệm (do bị kỷ luật, cảnh cáo, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút), mà không chờ hết nhiệm kỳ hay thời hạn bổ nhiệm. Gần đây nhất, ngày 30/12/2022 vừa qua, tại kỳ họp bất thường, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã biểu quyết, thống nhất để ông Phạm Bình Minh thôi giữ chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, ông Vũ Đức Đam thôi giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII.

Thứ hai, những sự kiện này chính là dấu ấn đặc biệt, có tính đột phá trong công tác cán bộ đúng như Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã nhấn mạnh: Việc cho thôi chức đối với các cán bộ cấp cao như vừa rồi là bước tiến rất lớn trong công tác cán bộ; không chỉ đảm bảo đúng phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ, mà còn cho thấy đó là một xu hướng tốt trong quá trình xây kết hợp với chống, vừa xây vừa chống nhuần nhuyễn để làm cho Đảng mạnh hơn. Và đó cũng chính là hiện thực hóa Thông báo kết luận số 20-TB/TW ngày 8/9/2022 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, để “từ chức” dần trở thành một lựa chọn trong sự nghiệp của mỗi cá nhân khi đã có những hạn chế, khuyết điểm (thậm chí là cả đối với những người thấy mình không còn phù hợp với vị trí công tác được đảm nhiệm…).

Sự thật là vậy, chứ không phải việc cho “thôi chức” và sau đó là tại kỳ họp bất thường diễn ra vào chiều 5/1/2023, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm 2 Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2021- 2026 (Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam) theo nguyện vọng của cá nhân là “sự thanh trừng nội bộ”. Đồng thời, sự miễn nhiệm này càng không phải “là kết quả một vụ tranh chấp phe nhóm trong nội bộ hay có bàn tay của ông bạn “bốn tốt 16 chữ vàng” nhằm lũng đoạn chính trường Việt Nam” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch .Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh chống tham nhũng, tiêu cực gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng và những kết quả trong đấu tranh chống tham nhũng là không thể phủ nhận. Do đó, việc cho rằng “chống tham nhũng, đốt lò chỉ là những khẩu hiệu rỗng tuếch, những chiêu bài để triệt hạ lẫn nhau mà vụ thanh trừng Minh và Đam là trường hợp mới nhất” chỉ là sự xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động, thù địch. Đảng là một khối thống nhất trong nhận thức, ý chí và hành động, nên ở đó không có sự “triệt hạ lẫn nhau”, cũng không có “sự thanh trừng nội bộ”, mà là mọi cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên đều phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, tuân thủ Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, Hiến pháp, pháp luật để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “CHỐNG THAM NHŨNG LÀM ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM”


Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc chiến lâu dài, gay go, quyết liệt. Chính vì sự quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã củng cố niềm tin trong nhân dân và đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng. Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là "đấu đá nội bộ", "phe cánh", làm "nhụt chí" những người khác”.

Tham nhũng là tệ nạn kéo lùi sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hủy hoại uy tín, danh dự của lực lượng cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Và chính tham nhũng hiện nay cũng đang trở thành hiểm họa, vấn nạn mà tất cả các quốc gia đều quan tâm. Trong đó, những quốc gia đang phát triển và chậm phát triển thì vấn đề này như một căn bệnh mà nếu không ngăn chặn được sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường.

“Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” - đó là lập luận của những cá nhân, tổ chức, các trung tâm truyền thông chống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tập trung tuyên truyền. Luận điệu này được Đài RFA đăng tải trên website ngày 28/11/2022, cho rằng “cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài RFA dẫn lời của Reuters suy diễn rằng, việc chống tham nhũng về dài hạn được nhìn nhận là tích cực nhưng trong ngắn hạn có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”… Đài VOA tiếng Việt hôm 29/11/2022 rêu rao, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Cùng phụ họa với RFA, VOA là các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ bài viết lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

Luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Trước tiên, cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý... Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ. Do đó, lập luận cho rằng chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế là sai trái.

Quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân. Như vậy, quan điểm rõ ràng “cây ngay không sợ chết đứng”, đã trong sạch, không tham ô, tham nhũng thì không phải e dè trong công việc của mình. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các chuỗi cung ứng trong kinh tế.

Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ. Cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam.

Cuộc chiến chống tham nhũng được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Để đối phó với tình trạng này, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ban hành Công ước về chống tham nhũng vào ngày 9/12/2003. Cuộc chiến chống tham nhũng cũng là một phần không thể thiếu đối với những quốc gia phát triển như Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU). Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các quốc gia Đông Nam Á... đều tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng để tạo đà cho sự phát triển kinh tế xã hội. Các quốc gia tổ chức triển khai cuộc chiến chống tham nhũng tạo động lực to lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, một quốc gia trong khối ASEAN là Indonesia đã tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng rất bài bản với việc công bố “đường dây nóng” để người dân có thể trực tiếp thông báo những vấn đề họ bức xúc; thành lập Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (KPK); thành lập Tổ cố vấn của Tổng thống về chống tham nhũng... Những việc làm quyết liệt đó đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở đất nước này. Do đó, hoàn toàn không có lý lẽ nào để tô vẽ, nguỵ biện rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế.

Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định: “Công tác chống tham nhũng, tiêu cực đã trở thành xu thế không thể đảo ngược”; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm nản chí, chùn bước, sợ sai không dám làm của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm chùn bước những ai có động cơ không trong sáng, đã trót "nhúng chàm" và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”.

Cuộc chiến chống tham nhũng đi vào thực chất, không còn vùng cấm và việc nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía người dân chính là động lực để cuộc chiến này càng thêm vững vàng với mục tiêu xây dựng một xã hội thực sự trong sạch, vì quyền lợi của mọi người dân, vì lợi ích của quốc gia dân tộc.

GIỮ GÌN, PHÁT HUY NÉT ĐẸP VĂN HÓA TẾT CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


Tết Nguyên đán - Tết lớn nhất trong năm, diễn ra vào mùa xuân, thời điểm kết thúc một chu kỳ bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông để bước vào một chu kỳ mới, một khởi đầu mới, nên luôn được gửi gắm nhiều ước vọng.

Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 (hay mùng 1) tháng Giêng âm lịch trên toàn nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, dành những lời chúc mừng tốt đẹp, mừng tuổi và thờ cúng tổ tiên.

Đối với người Việt, Tết Nguyên đán hết sức quan trọng và linh thiêng, được nhiều người mong đợi, nhất là những người đi làm ăn xa nhà, trở về sum vầy cùng gia đình, tận hưởng niềm vui đoàn tụ; cùng nhau nhìn nhận lại những việc đã làm trong năm cũ, đồng thời thực hiện các tập tục văn hóa (phong tục, tập quán) tốt đẹp với gia đình, dòng họ, cộng đồng và những gì đẹp nhất, ngon nhất, tốt nhất đều được dành cho ngày Tết. Việc làm này đã tác động sâu sắc vào tâm thức của bao thế hệ người Việt. Vì vậy, dù trải qua biết bao thời gian,nhưng những phong tục đón Tết, vui Tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được những nét văn hóa riêng, đậm đà bản sắc dân tộc. 

Giờ khắc linh thiêng nhất của Tết Nguyên Đán là giao thừa đêm ba mươi, thời khắc trời đất giao hòa. Gia đình quây quần, sum họp đón năm mới, mọi người trò chuyện, hàn huyên về cái được, cái mất của năm qua và bàn bạc cách làm ăn sao cho năm tới tốt đẹp hơn. Ngoài ra, Người dân Việt còn có phong tục xông nhà vào đêm giao thừa.

Tục chúc Tết, mừng tuổi đầu năm cũng là một mỹ tục xuất hiện từ lâu đời. Dân gian có câu: Mồng một Tết mẹ, Tết cha, Mồng hai Tết vợ, mồng ba Tết thầy. Đó là thể hiện nét đẹp văn hóa của người Việt. Sáng mồng Một Tết, mọi người trong gia đình mặc quần áo mới, tề tựu đông đủ để thực hiện nghi lễ chúc Tết và mừng tuổi. Con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ, chúc mạnh khỏe, sống lâu. Ông bà, cha mẹ chúc con cháu làm ăn tấn tới, học hành giỏi giang. Trẻ nhỏ được mừng tuổi bằng bao lì xì đỏ trong có ít tiền mới gọi là lộc với hàm ý may mắn cả năm.

Ngày Tết, họ hàng, láng giềng, đồng nghiệp qua nhà nhau chúc Tết, tay bắt mặt mừng, thăm hỏi nhau, chuyện trò râm ran, tíu tít. Điều đó làm cho ngày Tết càng thêm ý nghĩa về sự gắn kết và chia. Mọi người mang theo những điều tốt lành suốt trong năm mới và những điều không hay trong năm cũ đều được bỏ qua để quan hệ thân tộc, quan hệ xã hội… trong năm mới tốt đẹp hơn.

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ gìn và trân quý những giá trị tốt đẹp của ngày Tết cổ truyền chính là góp phần phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho mọi người Việt Nam càng thêm yêu quê hương, đất nước, càng gắn bó mật thiết với gia đình, với cộng đồng, sống có trách nhiệm hơn với quá khứ, với hiện tại và cả với tương lai. Và mỗi khi những nét đẹp văn hóa của Tết cổ truyền dân tộc được lan tỏa trong tâm hồn của mỗi người Việt Nam, thì nó sẽ trở thành nguồn lực nội sinh to lớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước./.

GIỮ GÌN, PHÁT HUY NÉT ĐẸP VĂN HÓA TẾT CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


Tết Nguyên đán - Tết lớn nhất trong năm, diễn ra vào mùa xuân, thời điểm kết thúc một chu kỳ bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông để bước vào một chu kỳ mới, một khởi đầu mới, nên luôn được gửi gắm nhiều ước vọng.

Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 (hay mùng 1) tháng Giêng âm lịch trên toàn nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, dành những lời chúc mừng tốt đẹp, mừng tuổi và thờ cúng tổ tiên.

Đối với người Việt, Tết Nguyên đán hết sức quan trọng và linh thiêng, được nhiều người mong đợi, nhất là những người đi làm ăn xa nhà, trở về sum vầy cùng gia đình, tận hưởng niềm vui đoàn tụ; cùng nhau nhìn nhận lại những việc đã làm trong năm cũ, đồng thời thực hiện các tập tục văn hóa (phong tục, tập quán) tốt đẹp với gia đình, dòng họ, cộng đồng và những gì đẹp nhất, ngon nhất, tốt nhất đều được dành cho ngày Tết. Việc làm này đã tác động sâu sắc vào tâm thức của bao thế hệ người Việt. Vì vậy, dù trải qua biết bao thời gian,nhưng những phong tục đón Tết, vui Tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được những nét văn hóa riêng, đậm đà bản sắc dân tộc. 

Giờ khắc linh thiêng nhất của Tết Nguyên Đán là giao thừa đêm ba mươi, thời khắc trời đất giao hòa. Gia đình quây quần, sum họp đón năm mới, mọi người trò chuyện, hàn huyên về cái được, cái mất của năm qua và bàn bạc cách làm ăn sao cho năm tới tốt đẹp hơn. Ngoài ra, Người dân Việt còn có phong tục xông nhà vào đêm giao thừa.

Tục chúc Tết, mừng tuổi đầu năm cũng là một mỹ tục xuất hiện từ lâu đời. Dân gian có câu: Mồng một Tết mẹ, Tết cha, Mồng hai Tết vợ, mồng ba Tết thầy. Đó là thể hiện nét đẹp văn hóa của người Việt. Sáng mồng Một Tết, mọi người trong gia đình mặc quần áo mới, tề tựu đông đủ để thực hiện nghi lễ chúc Tết và mừng tuổi. Con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ, chúc mạnh khỏe, sống lâu. Ông bà, cha mẹ chúc con cháu làm ăn tấn tới, học hành giỏi giang. Trẻ nhỏ được mừng tuổi bằng bao lì xì đỏ trong có ít tiền mới gọi là lộc với hàm ý may mắn cả năm.

Ngày Tết, họ hàng, láng giềng, đồng nghiệp qua nhà nhau chúc Tết, tay bắt mặt mừng, thăm hỏi nhau, chuyện trò râm ran, tíu tít. Điều đó làm cho ngày Tết càng thêm ý nghĩa về sự gắn kết và chia. Mọi người mang theo những điều tốt lành suốt trong năm mới và những điều không hay trong năm cũ đều được bỏ qua để quan hệ thân tộc, quan hệ xã hội… trong năm mới tốt đẹp hơn.

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ gìn và trân quý những giá trị tốt đẹp của ngày Tết cổ truyền chính là góp phần phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho mọi người Việt Nam càng thêm yêu quê hương, đất nước, càng gắn bó mật thiết với gia đình, với cộng đồng, sống có trách nhiệm hơn với quá khứ, với hiện tại và cả với tương lai. Và mỗi khi những nét đẹp văn hóa của Tết cổ truyền dân tộc được lan tỏa trong tâm hồn của mỗi người Việt Nam, thì nó sẽ trở thành nguồn lực nội sinh to lớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước./.

NHẬN THƯC VỀ ĐÂU TRANH BẢO VỆ BIỂN, ĐẢO


Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là một chủ trương đúng đắn, nhất quán của Đảng ta; là tiền đề quan trọng cho đất nước hòa bình, ổn định và phát triển. Nhận thức đúng đắn về chủ trương và các biện pháp đấu tranh này sẽ góp phần quan trọng nhằm nâng cao tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm và niềm tin của Nhân dân vào công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng.

Chủ trương giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng các biện pháp hoà bình của Đảng đã được Nhà nước ta thể chế hoá trong Luật Biển Việt Nam năm 2012; tại điều 4, khoản 3 đã ghi rõ: “Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế. Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại (đó là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển), phù hợp với luật pháp quốc tế (quy định các nước giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, và Liên hợp quốc cũng đã thành lập 4 cơ quan Toà chuyên giải quyết các tranh chấp biển, đảo giữa các nước); đồng thời chủ trương này phù hợp với truyền thống hoà hiếu của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Trên thực tế, Việt Nam đang kiên trì thực hiện chủ trương này và cho đến nay đã giải quyết được một số tranh chấp với các nước láng giềng. Cụ thể là, năm 1997, Việt Nam cùng Thái Lan phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Thái Lan; năm 2000, cùng Trung Quốc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; năm 2003, cùng Indonesia phân định thềm lục địa ở Nam Biển Đông; tiếp tục kiên trì đàm phán, phân định biển với các nước có khu vực biển chồng lấn như Philippines, Malaysia… Gần đây, với những sự việc căng thẳng, phức tạp trên Biển Đông như Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (năm 2014), hay năm 2019, tàu khảo sát địa chấn Hải Dương 8 và nhóm tàu hộ tống Trung Quốc xâm phạm bãi Tư Chính (thuộc thềm lục địa Việt Nam về phía Đông Nam), bằng các biện pháp đấu tranh hòa bình, Việt Nam đã buộc các tàu Trung Quốc chấm dứt các hành vi xâm phạm, do đó chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc được giữ vững. Thực tế này đã chứng minh chủ trương đấu tranh đúng đắn mà Đảng, Nhà nước ta đã nêu ra; đồng thời bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội khi cho rằng “Đảng, Nhà nước không có đối sách để bảo vệ chủ quyền biển, đảo” hay “Việt Nam chỉ biết lên tiếng quan ngại” mà không dám đấu tranh trực diện để bảo vệ biển, đảo đất nước.

MỘT SỰ THẬT KHÔNG THỂ CHỐI CÃI!


Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, sau hơn 36 năm đổi mới đất nước. Vượt lên muôn vàn khó khăn, thách thức, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, chưa bao giờ có được tiềm lực,vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Kinh tế tăng trưởng ở mức khá, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị, xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng.

Những thành tựu phát triển của đất nước từ sau giải phóng đến nay đã được báo chí và dư luận quốc tế liên tục đánh giá và ghi nhận. Mới đây, Ngân hàng Thế giới đã nhận định, Việt Nam là một điển hình thành công về phát triển, đạt được những tiến bộ chưa từng có về kinh tế, xã hội. Đặc biệt là những thành tựu trong phục hồi hậu Covid -19, chỉ tính riêng năm 2022 GDP ước tính đạt 8,02%, đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2011-2022, bình quân đầu người ước đạt 95,6 triệu đồng/người, năng suất lao động tăng 4,8% do trình độ lao động được cải thiện…

Hơn 36 năm đổi mới, từ một quốc gia nghèo trên thế giới, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình. Từ năm 2002 đến năm 2021, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700 đô la Mỹ. Tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh xuống còn 5%, với trên 10 triệu người được thoát nghèo. Tăng trưởng trong thập kỷ qua ở Việt Nam nhìn chung có tính chất bao trùm. Sự thoát nghèo diễn ra đồng đều ở hầu hết các nhóm và nhiều gia đình thoát nghèo chỉ trong vòng một thế hệ. Sức khỏe nhân dân được cải thiện cùng với mức sống ngày càng nâng cao. Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 tuổi lên 75,4 tuổi trong giai đoạn 1990 - 2019, cao nhất trong khu vực đối với các quốc gia có mức thu nhập tương tự.

Với những thành công trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế phát triển mạnh, quốc phòng, an ninh được giữ vững, củng cố và tăng cường. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập sâu rộng vào mọi mặt đời sống xã hội quốc tế, là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, nhất là có uy tín, vị thế cao trong hoạt động của Liên hợp quốc, là quốc gia được nhân dân trên thế giới yêu mến khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Những thành tựu phát triển của Việt Nam là minh chứng phản bác lại những luận điệu của các thế lực thù địch, với chiến lược “diễn biến hòa bình”, vẫn đang và sẽ cố tình xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ chế độ xã hội, phủ nhận thành quả đổi mới, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước cũng như hình ảnh của Việt Nam trong trường quốc tế.

ĐẤU TRANH VỚI NỘI DUNG XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP

 

Theo quy định của pháp luật, Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, bồi thường nhà nước; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ. Trong đó, nhiệm vụ xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được coi là những nhiệm vụ trọng yếu.

Một trong những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” là thủ đoạn lũng đoạn chính sách, cài cắm chính sách, lợi dụng chính sách, pháp luật để đả kích, bôi nhọ, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết khi thi hành. Thủ đoạn của chúng trong trường hợp này là lợi dụng công cụ “nhân quyền”, “dân chủ”, công cụ kinh tế khác để phản bác, gây ảnh hưởng đến các cơ quan, đơn vị có chức năng soạn thảo, thẩm tra, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật… Do đó, đây là lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức tìm cách bóp méo, xuyên tạc, bóp méo để thực hiện mưu đồ chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở nước ta.

Mới đây ngày 29/12/2022, trên trang blog Đối Thoại, đối tượng Cát Tường tán phát bài “Giấc mơ độc lập chính trị”; ngày 31/12/2022, trên trang blog Việt Nam Thời Báo, đối tượng tán phát bài “Vì sao không có tư pháp độc lập ở Việt Nam”, nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực Tư pháp; phủ nhận thành quả đạt được trong công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đồng thời kêu gọi Việt Nam cần thực hiện “tam quyền phân lập”.

Nhiều năm qua, với những nỗ lực không mệt mỏi Bộ Tư pháp đã xây dựng một nền tư pháp nhân dân, quản lý toàn diện các mặt hoạt động tư pháp, chịu trách nhiệm soạn thảo và tổ chức thi hành các đạo luật về quyền tự do, dân chủ của cá nhân, về dân sự, thương sự, hình sự và thủ tục tố tụng, tổ chức và quản trị các Tòa án, việc truy tố tội phạm, tư pháp công an, thi hành các án phạt, quản trị các nhà lao và giáo dục tù nhân, quản lý các viên chức Tòa án, viên chức ngạch tư pháp, luật sư, đại tụng viên, thừa phát lại, hỗ giá viên, phụ trách công việc quốc tịch, thực hiện các hiệp định tương trợ tư pháp và ủy thác tư pháp với nước ngoài... Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển Ngành Tư pháp không ngừng vun đắp, làm giàu thêm truyền thống và ngày càng nâng cao vị thế của Ngành. Các lĩnh vực hoạt động của Ngành Tư pháp được đẩy mạnh, đạt hiệu quả ngày càng cao hơn.

          Công tác hoàn thiện thể chế nói chung, thể chế trong các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ngành nói riêng đạt nhiều kết quả quan trọng. Cơ chế theo dõi thi hành pháp luật được hình thành, bước đầu được triển khai thực hiện có kết quả, thể hiện qua việc phản ứng nhạy bén hơn trước những vấn đề gây bức xúc trong xã hội, nhân dân. Công tác hành chính tư pháp từng bước đi vào nền nếp, giải quyết một khối lượng lớn yêu cầu của người dân trong các lĩnh vực quốc tịch, hộ tịch, lý lịch tư pháp, nuôi con nuôi, đăng ký giao dịch bảo đảm, bồi thường nhà nước; công tác xã hội hoá, huy động các nguồn lực xã hội tham gia các dịch vụ công trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp được đẩy mạnh. Công tác thi hành án dân sự đã có sự bền vững về kết quả thi hành án; công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp luật, tư pháp... được thực hiện bài bản, có hiệu quả hơn. Việc triển khai thực hiện một số nhiệm vụ mới được giao như kiểm soát thủ tục hành chính, quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính đạt được một số kết quả rõ rệt. Việc tham gia với vai trò đại diện pháp lý cho Chính phủ trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế bước đầu đạt kết quả khích lệ... Những kết quả mà ngành Tư pháp đạt được đã đóng góp thiết thực vào những thành tựu chung về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và tăng cường vị thế đối ngoại của đất nước. Vì vậy Bộ Tư pháp đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý, trong đó có 2 lần được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất, 01 lần được tặng thưởng Huân chương Sao vàng…

Với những kết quả đạt được trong thời gian qua, Ngành Tư pháp luôn được sự đồng tình ủng hộ và củng cố niềm tin của Nhân dân, càng khẳng định những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái và bị vạch trần bộ mặt chống phá của chúng. Chúng ta cần phải luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của đảng đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và ngành Tư pháp nói riêng./.

ĐẤU TRANH VỚI BÀI VIẾT NGÀY 31/12/2022, TRÊN TRANG BLOG VOA TIẾNG VIỆT “VIỆT NAM NẰM TRONG SỐ CÁC CHẾ ĐỘ KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI NHẤT THẾ GIỚI”,

 

Truyền thông xã hội (social communication) là một loại hình truyền thông được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông xã hội (social media). Các phương tiện truyền thông xã hội là các công cụ, ứng dụng giao tiếp đại chúng dựa vào không gian trực tuyến (online space) trên nền tảng in-tơ-nét và các công nghệ truyền thông hiện đại khác nhằm chuyển tải thông tin, kết nối mọi người ở mọi nơi có thể trao đổi với nhau một cách nhanh chóng và thuận tiện với sự chủ động của người dùng, hình thành nên các mối quan hệ xã hội, cộng đồng tương tác xã hội đa dạng, có tác động sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống cá nhân của mỗi người dùng.

Các loại phương tiện truyền thông xã hội chủ yếu gồm: mạng xã hội (social network); diễn đàn (forums); dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền in-tơ-nét (OTT); các tiểu blog (microblogging); trang chia sẻ link và tin tức xã hội (social bookmarking and social news); trang chia sẻ hình ảnh, video (social sharing),... Trong đó, mạng xã hội là phổ biến và có tác động lớn nhất trong các phương tiện truyền thông xã hội.

Theo số liệu thống kê của tổ chức Internet World Stats, tính đến ngày 30-6-2021, Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng in-tơ-nét cao thứ 15 trên thế giới và đứng thứ 8 trong tổng số 35 quốc gia, vùng lãnh thổ khu vực châu Á(2). Tính đến tháng 1-2021, Việt Nam có 68,72 triệu người dùng in-tơ-nét, tương ứng với 70,3% dân số cả nước; 72 triệu người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, chiếm 73,7% dân số; có tới hơn 154,4 triệu thiết bị kết nối mạng dữ liệu di động, chiếm 157,9% dân số (có nghĩa là mỗi người Việt Nam có thể sử dụng nhiều thiết bị kết nối mạng dữ liệu di động để thực hiện công việc, giải trí,...). Hằng ngày, mỗi người Việt Nam dành 6 giờ 47 phút để truy cập in-tơ-nét (gần tương đương với mức bình quân của thế giới là 6 giờ 54 phút), trong đó, khoảng 2 giờ 21 phút sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, gần tương đương với mức trung bình của thế giới (2 giờ 25 phút).

Tại Việt Nam, các phương tiện truyền thông xã hội có số lượng người sử dụng lần lượt từ cao đến thấp là: Youtube - Facebook - Zalo - Facebook Messenger - Instagram - Tiktok - Twitter - Skype - Pinterest - Linkedln - Viber - Whatsapp - Wechat - Line - Twitch - Snapchat.

Việt Nam đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong bảo đảm an toàn thông tin trên in-tơ-nét nói chung và truyền thông xã hội nói riêng, trong đó có Luật An ninh mạng 2018. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để ngăn chặn, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng in-tơ-nét nói chung, truyền thông xã hội nói riêng; chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa việc lợi dụng truyền thông xã hội gây nguy hại đến an ninh, trật tự xã hộ

Thời gian qua, lợi dụng tâm lý đám đông, tính tò mò của một bộ phận công chúng, một số đối tượng xấu đã sử dụng thủ đoạn thêu dệt, vu khống, bịa đặt thông tin, cắt - ghép vi-đê-ô làm hình ảnh minh họa để phao tin đồn thất thiệt, gây dư luận xã hội tiêu cực. Việc người dùng các phương tiện truyền thông xã hội có thể dễ dàng và nhanh chóng đưa ra những phát ngôn thiếu kiểm soát cũng có thể mang lại những hậu quả khôn lường. Tác động xấu từ truyền thông xã hội có thể dẫn đến những hậu quả trực tiếp, tức thì, nhưng cũng có những hậu quả lâu dài, len lỏi, tích tụ vào ứng xử, lối sống, dần dần phá vỡ những hệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp. Những đổ vỡ về giá trị, những tổn thương về tâm lý ảnh hưởng đến đời sống mỗi cá nhân, từ đó, tác động đến ổn định chính trị, xã hội của quốc gia. Bên cạnh đó, có một vấn đề đáng quan tâm là, nhiều người dùng truyền thông xã hội hiện nay đang nhầm lẫn ranh giới giữa phản biện cá nhân, nói ra chính kiến, quan điểm, sự góp ý mang tính phản biện với việc đưa ra những bình luận, phát ngôn bôi nhọ, nói xấu, tạo nên sự thù nghịch. Ngoài ra, không ít người còn lầm tưởng rằng, các phương tiện truyền thông xã hội ở nước ngoài, như Facebook, Youtube,... không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam nên họ không bị cấm hay hạn chế, không chịu trách nhiệm trong việc “tự do” đưa ra các phát ngôn, bình luận thiếu suy nghĩ.

BÀI ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA TRANG FACEBOOK VIỆT TÂN VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Nhiều năm qua, Tổ chức khủng bố Việt Tân đã luôn cố tình quy chụp, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. Mục đích của việc này không ngoài sự hạ bệ, phủ nhận những nỗ lực của nước ta trong xây dựng môi trường báo chí lành mạnh; từ đó, xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng, Việt Nam tiếp tục nằm trong những quốc gia có tình hình báo chí “rất tồi tệ” với mức xếp hạng 174/180 quốc gia được khảo sát. Đây không còn là vấn đề xa lạ, kể từ khi được thành lập cho đến nay, chúng luôn đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia không có tự do báo chí, tự do ngôn luận. Vậy vấn đề nằm ở đâu?

Việt Tân luôn tung hô, ca ngợi những người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng đất nước ở Việt Nam... mà quên mất một điều rằng, không một quốc gia nào trên thế giới có được sự tự do báo chí tuyệt đối, mọi hoạt động báo chí đều nằm trong khuôn khổ pháp luật của quốc gia đó.

Từ đó cho thấy, mục đích của việc luận điệu này không phải để giúp Việt Nam có được sự tự do báo chí, tiến tới sự phát triển, mà thực chất chỉ là chiêu trò xuyên tạc, bóp méo tình hình báo chí ở Việt Nam; lấy đó làm cơ sở để công kích các vấn đề về nhân quyền, dân chủ, tự do vốn là một trong những chiêu bài mà các nước phương Tây luôn áp dụng để hạ bệ, chống đối nhằm làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân về tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, của cơ quan báo chí; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền được “phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Điều cần lưu ý là các công ước quốc tế về quyền con người cũng như luật pháp của các nước đều coi tự do báo chí là một quyền cơ bản, nhưng đó không phải là quyền tự do tuyệt đối mà phải có giới hạn nhất định và thực hiện quyền này ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy theo tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia đó.

Việt Nam không có chế độ kiểm duyệt báo chí, Nhà nước luôn đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân được thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng việc thực hiện các quyền này phải được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Không một tổ chức hay cá nhân nào được phép lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm hại đến lợi ích quốc gia, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đây là những quy định phù hợp với thực tiễn, hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Việt Nam hiện có 127 cơ quan báo; 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình và khoảng 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí. Báo chí Việt Nam thực sự trở thành diễn đàn và công cụ để bảo vệ tự do và lợi ích của nhân dân. Mọi người dân, không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, tôn giáo... đều có quyền phát biểu, đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cấp chính quyền thông qua báo chí. Từ đó, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong xã hội; tăng cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cầu nối quan trọng với bạn bè quốc tế. 

Việc Tổ chức khủng bố Việt Tân bất chấp thực tiễn để xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do ngôn luận, nhân quyền của Việt Nam suy cho cùng cũng vì mục đích chính trị, hòng biến báo chí trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho việc chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Tự do báo chí ở xã hội nào cũng chỉ mang tính tương đối, nó phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi thời kỳ và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Vì vậy, việc phản ánh sai lệch, thiếu trung thực về tình hình tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam của Tổ chức khủng bố Việt Tân đã trở thành những luận điệu lạc lõng và không có căn cứ.

ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong thời gian qua, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt và nguy hiểm. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để tác động chuyển hóa nội bộ, gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam; kích động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội và an ninh, trật tự ở Việt Nam; hậu thuẫn, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Nhưng, cùng với cố tình phủ nhận thành tựu, kết quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, ra sức chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”.

Có thể nhìn nhận rõ, các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay gồm: lực lượng cực hữu, một số nghị sĩ cực đoan tại một số nước phương Tây, các nhóm phản động người Việt Nam ở nước ngoài và những cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng, núp bóng “ngọn cờ dân chủ”, “nhân quyền” chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Tham dự vào lực lượng này còn có những người theo các trào lưu tư tưởng và đường lối chính trị trái ngược với giá trị của chủ nghĩa xã hội tại các nước phương Tây; những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam.

Vừa qua ngày 31/12/2022, trên trang blog VOA Tiếng Việt tán phát bài “Việt Nam nằm trong số các chế độ kiểm soát chặt chẽ truyền thông xã hội nhất  thế giới”, nội dung xuyên tạc tình hình tự do dân chủ tại Việt Nam, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần hết sức tỉnh táo, đề cao cảnh giác để phát hiện, phòng chống, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả và làm rõ, đầy lùi, đập tan thủ đoạn “lợi dụng nhân quyền” chống phá của các thế lực thù địch.

Truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc luôn là động lực to lớn, tiếp thêm sức mạnh để mỗi người dân Việt Nam mang trong mình dòng máu Lạc Hồng cảm nhận và chuyển hóa thành hành động, việc làm cụ thể, thiết thực, tiến lên giành những thắng lợi mới trên chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

MỘT SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ XUẤT NGŨ

Ngoài chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) một lần, hạ sĩ quan, binh sĩ (HSQ, BS) khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp xuất ngũ một lần (cứ mỗi năm phục vụ trong Quân đội được trợ cấp bằng hai tháng tiền lương cơ sở).

HSQ, BS phục vụ tại ngũ thời hạn đủ 30 tháng, khi xuất ngũ được trợ cấp thêm hai tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng; trường hợp xuất ngũ trước thời hạn 30 tháng thì thời gian phục vụ tại ngũ từ tháng thứ 25 đến dưới 30 tháng được trợ cấp thêm một tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng. HSQ, BS hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ theo quy định được trợ cấp tạo việc làm bằng 6 tháng tiền lương cơ sở. Khi xuất ngũ, HSQ, BS được đơn vị tổ chức buổi gặp mặt chia tay, mức chi 50.000 đồng/người; được đơn vị tiễn và đưa về địa phương nơi cư trú theo quy định hoặc cấp tiền tàu, xe (loại phổ thông) và phụ cấp đi đường từ đơn vị về nơi cư trú.

Nếu HSQ, BS trước khi nhập ngũ đang học tập hoặc có giấy gọi vào học tại các trường thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học thì được bảo lưu kết quả, được tiếp nhận vào học tại các trường đó. Trường hợp HSQ, BS hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, khi xuất ngũ nếu có nhu cầu đào tạo nghề và đủ điều kiện được hỗ trợ đào tạo nghề thì được hỗ trợ đào tạo nghề theo quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9-7-2015 của Chính phủ, quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm.

HSQ, BS trước khi nhập ngũ đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội thì khi xuất ngũ, cơ quan, tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm thu nhập không thấp hơn trước khi nhập ngũ; trường hợp cơ quan, tổ chức đó đã giải thể thì cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm bố trí việc làm phù hợp. Trường hợp cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp đó đã giải thể hoặc không có cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp thì sở lao động-thương binh và xã hội có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan cùng cấp để giải quyết việc làm.

HSQ, BS trước khi nhập ngũ đang làm việc tại tổ chức kinh tế thì khi xuất ngũ, tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm tiền lương, tiền công tương xứng với vị trí việc làm và tiền lương, tiền công trước khi nhập ngũ; trường hợp tổ chức kinh tế đã chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc phá sản thì việc giải quyết chế độ, chính sách đối với HSQ, BS xuất ngũ được thực hiện như đối với người lao động của tổ chức kinh tế đó theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành; cơ quan BHXH địa phương nơi tổ chức kinh tế nói trên đóng BHXH chịu trách nhiệm thanh toán chế độ BHXH theo quy định hiện hành.

HSQ, BS được tiếp nhận vào làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức, các cơ sở kinh tế thuộc các thành phần kinh tế được xếp lương theo công việc đảm nhiệm, thời gian phục vụ tại ngũ được tính vào thời gian công tác và được hưởng chế độ, chính sách theo quy định hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của cơ sở kinh tế đó. HSQ, BS xuất ngũ theo quy định tại khoản 1 Điều 43 và khoản 1 Điều 48 Luật Nghĩa vụ quân sự, khi về địa phương được chính quyền các cấp, cơ quan, tổ chức ưu tiên sắp xếp việc làm và cộng điểm trong tuyển sinh, tuyển dụng công chức, viên chức; trong thời gian tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của ngạch tuyển dụng tương ứng với trình độ đào tạo.

Ngoài ra, khi hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, nếu có nhu cầu đào tạo nghề và đủ điều kiện được hỗ trợ đào tạo nghề thì HSQ, BS còn được cấp thẻ học nghề bằng 12 tháng lương cơ sở và 1 túi quà Tết Nguyên đán theo hướng dẫn của Cục Tài chính (Bộ Quốc phòng).


PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐÒI PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG


Hiện nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng để chống phá nước ta bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”. Với mục tiêu không thay đổi là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thế lực thù địch đặc biệt chú ý đến lực lượng vũ trang, tập trung thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa, phi chính trị hóa Quân đội và Công an, coi đây là mũi nhọn nhằm vô hiệu hóa sức mạnh chuyên chính trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước ta.

Âm mưu, thủ đoạn phi chính trị hóa lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch là vô cùng thâm độc, nguy hiểm. Chúng tập trung xuyên tạc, phá hoại bản chất, truyền thống và những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của Quân đội và Công an, của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; triệt để lợi dụng những biểu hiện tiêu cực để xuyên tạc, bôi nhọ truyền thống cách mạng tốt đẹp; kích thích những xu hướng, tư tưởng sai trái, những hành vi đạo đức, lối sống lệch chuẩn. Sử dụng sức mạnh của các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại đặc biệt là internet, mạng xã hội… bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài để tác động mạnh mẽ vào cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhằm truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm hạ uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang… Ngày 02/01/2023, trên trang blog Việt Nam Thời Báo, đối tượng Phạm Bá Hoa tán phát bài “Thư số 135: Gửi người lính Quân đội nhân dân Việt Nam”, nội dung xuyên tạc lịch sử; bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ; kích động gây chia rẽ đoàn kết trong nội bộ Quân đội; đồng thời, kêu gọi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.

Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, quân đội và công an là những lực lượng nòng cốt. Trong đó, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Đây là nguyên tắc cơ bản, quyết định bản chất, mục tiêu, lý tưởng và phương hướng hành động của lực lượng vũ trang. Bảo đảm Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn vững mạnh về chính trị, là lực lượng tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng và Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của âm mưu và hoạt động đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”. Ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Ba là, tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại đáp ứng hiệu quả yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Bốn là, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, phối hợp chặt chẽ trong mọi tình huống để thực hiện tốt, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững ổn định trật tự, an toàn xã hội, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Năm là, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân thường xuyên làm tốt công tác vận động quần chúng; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Quân đội nhân dân, Công an nhân dân phải là những tấm gương sáng trong phục vụ nhân dân; thực sự là chỗ dựa tin cậy, thu hút mạnh mẽ quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ noi theo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU VU CÁO VIỆT NAM VI PHẠM NHÂN QUYỀN


Các thế lực thù địch luôn lợi dụng danh nghĩa nhân quyền để can thiệp, xâm phạm chủ quyền, độc lập của Việt Nam, coi “dân chủ”, “nhân quyền” thực chất là một “chiêu bài” của các nước phương Tây để can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của Việt Nam, là sự áp đặt trắng trợn, ngạo nghễ những giá trị không phù hợp của Mỹ và phương Tây vào tình hình cụ thể và truyền thống của Việt Nam.

Từ ngày 11/10/2022, tại phiên họp của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77 ở New York (Mỹ), với đa số phiếu đồng ý, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc 2025. Từ khi thông tin Việt Nam là quốc gia duy nhất của ASEAN ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, các thế lực thù địch, phản động, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo về việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và phủ nhận những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người đối với cộng đồng quốc tế. Họ còn đưa ra các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi đến các thành viên của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đề nghị không bầu chọn Việt Nam vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Nhận diện các luận điệu của các thế lực thù địch

Họ đưa ra những luận điệu vu cáo “Việt Nam vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”, “Việt Nam không đủ tiêu chuẩn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc”, “Việt Nam xem giá trị dân chủ, nhân quyền như kẻ thù”; cổ xúy quan điểm “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”, “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thật sự”, “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng”... Một số tổ chức ở ngoài nước sử dụng chiêu bài bôi lem vấn đề nhân quyền ở Việt Nam bằng cách bình chọn, trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước để tạo dựng ngọn cờ chống phá và hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, những cá nhân, tổ chức chống phá đưa ra đều phản ánh sai lệch, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong thời gian qua. Kết quả lần thứ 2 được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là sự khẳng định và góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

 Những minh chứng sống động phản bác các luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người, chúng ta thấy rõ thành tựu nhân quyền trên các phương diện sau:

Hiến pháp năm 2013 bao gồm 11 chương, 120 điều, trong đó riêng Chương II có 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các điều của Hiến pháp xác định rõ “mọi người có quyền”, “công dân có quyền”… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Đồng thời, để bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người, trong quan hệ hợp tác quốc tế về bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền và là thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp quốc, Việt Nam đã tham gia 4 Công ước Geneva của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007. Đồng thời, Việt Nam tham gia trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, ký ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010...

Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã ban hành Chỉ thị 12-CT/TW về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta đã khẳng định “Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết.

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Mới đây, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc ngày 04/7/2019 tại Geneva (Thụy Sỹ) khẳng định nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người là những minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng, là thành viên tích cực, được Liên Hợp quốc và các nước ghi nhận, đánh giá cao. Tại khóa họp lần thứ 73 ở trụ sở Liên Hợp quốc ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần tuyệt đối (192/193 phiếu). Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, nhất là vấn đề bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam.

Tin tưởng rằng trong nhiệm kỳ 2023-2025 sắp tới, với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, với thông điệp “Tôn trọng và hiểu biết; đối thoại và hợp tác; tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người”, Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được về bảo đảm quyền con người, có nhiều đóng góp tích cực để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới, đặc biệt là các vấn đề về ứng phó với biến đổi khí hậu, di cư, bảo vệ, thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số, người di cư…

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI ĐÒI TAM QUYỀN PHÂN LẬP


Trong thời gian gần đây, một số cá nhân lợi dụng việc chậm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp, tình trạng tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và việc hoạt động chưa thật sự hiệu quả của một số thiết chế trong bộ máy nhà nước... để phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước và tung hô, cường điệu hóa, lý tưởng hóa học thuyết “tam quyền phân lập”. Đây là những luận điệu không mới và đã được các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, kích động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta.

Có thể khẳng định ngay rằng, đó là luận điệu sai trái, cực đoan và cơ hội chính trị. Học thuyết “tam quyền phân lập” được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức và một số nước phương Tây mặc dù có mang lại một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu, tham khảo, nhưng không nên vì thế mà cường điệu hóa, lý tưởng hóa và xem nó như là chìa khóa vạn năng của “dân chủ - pháp quyền”, của kiểm soát quyền lực nhà nước và ngăn ngừa tham nhũng với những lý do sau đây:

Thứ nhất, về phương diện lý luận, “tam quyền phân lập” là một học thuyết phức tạp, đa chiều, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tư tưởng “tam quyền phân lập” được các nhà hiền triết đề xướng từ thời La Mã cổ đại, nhưng với tư cách là một học thuyết, có thể nói nó là sản phẩm của nền dân chủ phương Tây, gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của kiểu tổ chức quyền lực nhà nước phong kiến với toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào tay một người là Vua, theo quan niệm Vua là con trời, thể theo lòng trời mà làm vua, ý vua là pháp luật cao nhất. Có thể xem, đây là một học thuyết có giá trị về chính trị - kỹ thuật pháp lý rất to lớn trong tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi, hạt nhân hợp lý nhất của học thuyết này, là khi quan niệm quyền lực nhà nước không được tập trung vào một người hay một cơ quan mà được cấu thành từ ba quyền cơ bản lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền được giao cho các cơ quan khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập tương đối với nhau. Giữa ba quyền này có sự kiểm soát, đối trọng lẫn nhau. Với quan niệm đó, học thuyết phân quyền là sự phủ định biện chứng đối với các nhà nước chuyên chế tập quyền.

C.Mác và Ph.Ăngghen khi nêu ra mặt tiến bộ của học thuyết về “tam quyền phân lập” đã nhấn mạnh rằng, sự phân chia quyền lực, thực chất, không phải là cái gì khác ngoài sự phân công lao động thực tế cơ cấu nhà nước nhằm làm đơn giản hóa và dễ kiểm soát. Ph.Ăngghen viết: “Sự phân quyền... trên thực tế chỉ là một sự phân công lao động tầm thường trong công nghiệp, được vận dụng vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hóa và kiểm soát”.

Dựa trên quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự cần thiết của việc phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong hiến pháp, nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng đã có chung quan điểm: Sự phân chia quyền lực là hệ thống các chế định pháp luật  - nhà nước hướng tới bảo đảm các phương tiện pháp lý có sự độc lập tương đối của các cơ quan nhà nước với nhau.

Thứ hai, về phương diện thực tiễn, do những hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập” mà mức độ, tính chất và đặc điểm của sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế có sự khác nhau ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như trình độ dân chủ, truyền thống dân tộc, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Sự áp dụng học thuyết này trong nhà nước theo chính thể cộng hòa tổng thống khác với chính thể cộng hòa đại nghị hoặc chính thể cộng hòa hỗn hợp...; trong hình thức cấu trúc nhà nước liên bang khác với hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất.

Dựa trên học thuyết “tam quyền phân lập”, hơn hai thế kỷ nay, các nhà nước tư sản phương Tây đã tổ chức quyền lực nhà nước của mình. Tuy nhiên, việc vận dụng học thuyết đó là hết sức đa dạng, muôn màu, muôn vẻ, không có nước nào giống nước nào. Cũng phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cách thức tổ chức mỗi quyền thì ở các nước khác nhau quy định rất khác nhau. Có nước thì phân quyền cứng rắn theo chính thể cộng hòa tổng thống (như nước Mỹ); có nước thì phân quyền mềm dẻo theo chính thể Cộng hòa đại nghị (như Liên bang Đức) hay chính thể quân chủ Lập hiến (như Vương quốc Anh); ngược lại, có nước phân quyền lưỡng tính theo chính thể Cộng hòa lưỡng tính (như Cộng hòa Pháp). Cũng tổ chức quyền lực nhà nước gồm ba quyền, nhưng có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp không có sự độc lập, đối trọng chế ước lẫn nhau (như nước Anh) mà dựa vào phe đối lập thiểu số trong Nghị viện. Có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp lại độc lập, kiềm chế và đối trọng một cách cứng rắn (như nước Mỹ); có nước kiềm chế đối trọng một cách mềm dẻo giữa các quyền (như ở Đức). Việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư sản là rất khác nhau. Bởi tổ chức quyền lực nhà nước về phương diện chính trị và kỹ thuật pháp lý, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố từ tương quan lực lượng giữa các giai cấp, nhất là trong nội bộ của giai cấp cầm quyền, từ đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở trong nước và trên trường quốc tế, tư tưởng lập hiến của những người đương thời,… Tất cả các yếu tố đó đều là những nhân tố chi phối và ảnh hưởng đến việc vận dụng học thuyết phân quyền, trong tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi nước. Vì thế, không thể nói phân quyền theo nước này thì tốt nước kia thì không tốt, theo mô hình này thì dân chủ, theo mô hình kia thì không có dân chủ. Vì thế, tuyệt nhiên không có sự sao chép, rập khuôn máy móc mô hình phân quyền của nước này cho nước kia; đòi hỏi tổ chức quyền lực nhà nước của nước này phải giống nước kia mới có dân chủ và nhân quyền như một số người mong muốn.

Thứ ba, về bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia (chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác); các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Tư tưởng phân quyền, về bản chất, đối lập với tư tưởng thống nhất quyền lực. G.G.Rútxô phủ nhận sự phân chia quyền lực về mặt chính trị - xã hội và cho rằng, quyền lực cần phải bắt nguồn từ nhân dân. Nói đúng hơn, đó không phải là sự phân chia quyền lực, mà là sự phân công chức năng giữa các cơ quan quyền lực nhà nước thống nhất.

Quyền lực nhà nước vốn dĩ là một chỉnh thể, bao gồm các bộ phận cấu thành quan hệ hữu cơ với nhau và với toàn bộ quyền lực nhà nước, không thể phân tách độc lập và yêu cầu các quyền chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau được. Trên thực tiễn, quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Vì thế, những cố gắng phân quyền trong các hiến pháp tư sản đã bị phá sản trong thực tiễn; tư tưởng của những người “sáng lập” ra nó cũng trở nên vô ích.

Ở Việt Nam, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Sự khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng ta. Với sự hoàn thiện này, nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân được xác định bởi bốn nội dung quan trọng: thống nhất quyền lực, phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Tổ chức quyền lực của bộ máy nhà nước ta dựa trên quan điểm về sự thống nhất quyền lực:”Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”của tư tưởng dân chủ XHCN.

Nguyên lý này không những được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta mà hầu hết các nước có chế độ chính trị dân chủ và pháp quyền trên thế giới. Theo đó, nhân dân thực hiện quyền dân chủ đại diện bằng cách trao một phần quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp, đồng thời giữ lại một phần quyền lực của mình để thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp. Hiến pháp 2013 khẳng định rõ nguyên tắc phân công phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp khi quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

Thực tế ở nước ta chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã chỉ ra.

Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp. Ngược lại, sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước, nhờ đó hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng cao; tránh sự trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của cả bộ máy nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thống nhất. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là nhân dân.

Từ những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn như đã phân tích ở trên, chúng ta khẳng định rằng: “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam, bởi lẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào là phụ thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Ở nước ta, nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước, quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của nhân dân, chứ không thể phân chia. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được bảo đảm thực hiện bởi sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực tiễn và kinh nghiệm qua 35 năm đổi mới cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế đã cho thấy, tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới, lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không “tam quyền phân lập” mà thống nhất quyền lực của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hơp và kiểm soát giữ các cơ quan nhà nước trong viêc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại./.