Thứ Năm, 16 tháng 3, 2023

NHỮNG THÓI XẤU CẦN ĐẤU TRANH


Lâu nay có những việc mà nhiều người coi là "chuyện nhỏ" nhưng lại gây hậu quả rất nghiêm trọng, là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thổi phồng, chống phá, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, thậm chí ảnh hưởng tới uy tín của đất nước. Những việc này cần được nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục, không để "chuyện nhỏ" gây họa to!

Một là, Thói hống hách, trịch thượng. Đây là hai ví dụ về cán bộ, đảng viên - những người có trách nhiệm phải nêu gương phẩm chất đạo đức, ứng xử, tôn trọng nhân dân thì lại thể hiện sự hống hách, có hành vi xúc phạm người dân, bị dư luận lên án mạnh mẽ. Thực tế đã có không ít video clip chia sẻ trên mạng xã hội hình ảnh cán bộ, công chức, viên chức ở cấp cơ sở thể hiện sự hách dịch, trịch thượng, thiếu văn hóa, cậy quyền cậy thế, rõ ràng mình sai mà vẫn ngang ngược dọa dẫm kiểu “Biết tao là ai không?”- khiến người dân rất bức xúc. Cá biệt, có cán bộ còn “nói một đằng, làm một nẻo”, ví dụ như yêu cầu cấp dưới phải triệt để thực hành tiết kiệm nhưng bản thân mình thì lãng phí, tùy tiện sử dụng tài sản công vào những việc riêng, thậm chí phục vụ cả gia đình, họ hàng... Cán bộ cấp trên mà như vậy khiến cấp dưới chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu, thậm chí sinh ra bất mãn. Hiện tượng này cần phải phê phán, đấu tranh mạnh mẽ vì đó là nguyên nhân gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, suy yếu tổ chức và vô cùng nguy hiểm khi các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

Hai là, Vấn nạn "gây khó để có phong bì”. Tham nhũng là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, đang được Đảng, Nhà nước ta quyết liệt đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi. Sự kiên quyết và những kết quả rất đáng ghi nhận trong công tác đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai" đã củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào kỷ cương, phép nước, vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực tế là bên cạnh đại đa số cán bộ, công chức, viên chức thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm, giữ gìn đạo đức, lối sống thì vẫn còn một bộ phận nhũng nhiễu, cố tình "gây khó để có phong bì". Ví dụ như ở không ít bệnh viện có hiện tượng nhân viên y tế "gợi ý" tặng quà cho bác sĩ để được khám, chữa bệnh nhanh hơn, tốt hơn; khi người dân hoặc cấp dưới cần giải quyết các thủ tục, giấy tờ thì cán bộ, nhân viên cơ quan chức năng bắt đi lại nhiều lần, chỉnh sửa nhiều lần không thực sự cần thiết, cá biệt còn có hiện tượng giả vờ không nhận được thông tin qua thư điện tử, qua phần mềm gửi - nhận văn bản theo đúng quy định của nhà nước để đối tượng phải trực tiếp đến gặp (thường mang theo phong bì "cảm ơn"); rồi một số "con sâu" trong các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra cũng "gợi ý" tặng quà để bỏ qua vi phạm... Nạn vòi vĩnh này gây mất lòng tin của nhân dân ghê gớm!

Ba là, Những phát ngôn khiến dư luận bất bình. Bên cạnh thói hống hách, trịch thượng và nạn "tham nhũng vặt" thì việc một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có những phát ngôn bột phát, thiếu suy nghĩ, thậm chí hết sức vô lý không chỉ gây cười mà còn khiến dư luận bất bình và các thế lực thù địch lợi dụng để đặt điều, xuyên tạc, ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của tổ chức, nhất là trong thời đại thông tin lan truyền rất nhanh qua internet. Trên thực tế, có những cán bộ, công chức, viên chức thực sự lỡ lời, vô tình nói thiếu câu từ, diễn đạt chưa hết ý dẫn đến sự hiểu lầm đáng tiếc. Nhưng cũng không hiếm người có trách nhiệm phát ngôn tùy tiện, thiếu cả tâm và tầm, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của cán bộ đó mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy, các cơ quan, tổ chức cần xem xét xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phát ngôn thiếu tâm và tầm, nhất là để bao biện, né tránh trách nhiệm một cách vô lý, nực cười, khiến dư luận bất bình.

Âm mưu của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta không bao giờ thay đổi, đồng thời, phương thức, thủ đoạn chống phá của chúng ngày càng tinh vi, nham hiểm, quyết liệt, triệt để lợi dụng mọi sơ hở của ta để công kích. Do đó, chính chúng ta phải kiên quyết và nỗ lực khắc phục những hạn chế, yếu kém, tự làm đẹp mình hơn nữa để nhân dân thêm tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; bạn bè quốc tế thêm hiểu và yêu mến đất nước, con người Việt Nam. Thực tế thời gian qua, nước ta đã đạt được nhiều thành quả ấn tượng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh; tích cực tham gia đóng góp vào giữ gìn hòa bình, ổn định, vì sự phát triển của khu vực và thế giới; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đây là sự thật hiển nhiên mà không ai có thể phủ nhận. Thế nhưng những chuyện "tưởng nhỏ" nêu trên đang tiềm ẩn nguy cơ lớn, cần được Đảng, Nhà nước và toàn dân ta quyết tâm chấn chỉnh, khắc phục bằng được để đất nước phát triển vững mạnh, góp phần củng cố "thế trận lòng dân", không để kẻ xấu lợi dụng chống phá./.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SUY DIỄN CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA CỦA CÁC THỂ LỰC THÙ ĐỊCH


Tham nhũng là một hiện tượng tồn tại mang tính tất yếu và khách quan trong xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực; người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng để tham nhũng, thu về những lợi ích bất chính.

Tham nhũng chính là trở ngại lớn đối với sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước; làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, Đảng viên, Đảng và Nhà nước ta. Về lâu dài, điều này đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do đó, công tác phòng, chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng mang mục đích giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với giai cấp cầm quyền. Không nằm ngoài xu hướng vận động trên, công cuộc phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta cũng theo quy luật tất yếu để giữ vững, đảm bảo sự tồn vong của chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên đưa các thông tin, luận điệu về công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bóp méo về công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta là cuộc “thanh trừng nội bộ”, “ẩu đả phe cánh” và nguồn gốc của tham nhũng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta. Không dừng lại ở đó, chúng còn đưa ra các kết luận vô căn cứ như: Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; tham nhũng hay tình trạng tham nhũng trong Đảng Cộng sản Việt Nam là “căn bệnh nan y không có thuốc chữa”; nguyên nhân tất yếu và nguồn cơn của của tham nhũng là do Đảng ta là chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch là hết sức thâm hiểm, chẳng hạn: Khi chúng ta xử lý kỷ luật một số cán bộ Đảng viên liên quan đến tham nhũng nhưng chưa áp dụng xử lý theo quy định của pháp luật Hình sự thì một số trang mạng cho rằng đây là kiểu “kỷ luật mềm”, chỉ là cái cớ chứ sự thực “Đảng vẫn bao che, dung túng”. Đến khi chúng ta xử lý hình sự những cán bộ, Đảng viên này thì chính những trang mạng này lại quay ngoắt ngòi bút phi nghĩa theo dã tâm của chúng và cho rằng đây là cuộc “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe cánh”. Âm mưu của các thế lực thù địch là rất tàn độc, để đạt được mục đích, chúng thay đổi luận điệu để đánh vào tâm lý, lòng tin của quần chúng nhân dân làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Mục đích của chúng là chia rẽ nội bộ trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh và sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng từ đó tạo điều kiện để chúng thực hiện mưu đồ như: Phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng ; phủ định giá trị lịch sử và thành quả cách mạng của dân tộc ta…

Cần phải khẳng định rằng: Tham nhũng không chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Đồng thời, việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tính tất yếu, khách quan dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng, đầy đủ. Bởi lẽ, nếu Đảng không kiểm soát được quyền lực thì sẽ dẫn đến hậu quả hết sức khôn lường, tình trạng “tha hóa quyền lực” và lạm dụng quyền lực sẽ là nguồn cơn của vấn đề tham nhũng. Nếu để tình trạng này xảy ra sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục rỗng hệ thống chính trị, về lâu dài nó sẽ đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Trong những năm qua, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta được thực hiện rất quyết tâm, mạnh mẽ để làm trong sạch Đảng ta. Điều này thể hiện rõ tại Nghị quyết Đại hội XIII: “Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”. Các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng còn được đề cập trong các Văn kiện và được cụ thể hóa trong: Cương lĩnh, Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận… đây là cơ sở chính trị trong công tác phòng chống tham nhũng.

Điều này được thể hiện ngay trong đạo luật cơ bản của chúng ta. Cụ thể: Khoản 2, Điều 8 Hiến pháp 2013 đã nêu rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải…kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Không những thế, Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành Luật, Nghị định, Thông tư… tạo thành hành lang pháp lý vững chắc và chế tài nghiêm khắc để “không thể tham nhũng”, cơ chế răn đe để “không giám tham nhũng” và cơ chế để “không cần tham nhũng”.

Công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay là không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Do đó, với quan điểm trên, luận điệu xuyên tạc: “Phòng chống tham nhũng là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”… là hoàn toàn vô căn cứ. Chúng luôn đưa ra những luận điệu, quan điểm mang tính quy chụp, xảo biện để định hướng dư luận theo ý đồ của chúng và luôn tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có những luận điệu xuyên tạc công tác phòng chống tham nhũng tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta khẳng định công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta là một tất yếu, khách quan khoa học và nhất định sẽ thành công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhận thức được vấn đề này, mỗi cá nhân chúng ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Ý thức trong việc giác ngộ, nâng cao nhận thức bản thân để biết phân biệt được đúng, sai; không cổ súy, lan truyền thông tin xấu gây hại cho Đảng và Nhà nước góp phần chung vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc./.

SỰ HỐI HẬN MUỘN MÀNG VÀ TIẾNG NÓI NHỮNG NGƯỜI TRONG CUỘC


Hình ảnh ông Peter Mathews, cựu lính Mỹ bồi hồi, xúc động và bật khóc khi mang cuốn nhật ký của liệt sĩ Cao Văn Tuất (Hà Tĩnh) mà ông đã lưu giữ 56 năm về tới Việt Nam và được tiếp đón chu đáo, thân tình bởi những người Việt Nam. Cuốn sổ được ông Peter Mathews tìm thấy trong balo của người lính Việt Nam, rơi dưới chân đồi 724, trong trận Đăk Tô, Tây Nguyên vào tháng 11/1967. Trong đó, chủ yếu là những ca khúc, bài thơ, lời tự sự của liệt sĩ Cao Văn Tuất, thể hiện tinh thần lý tưởng, tự nguyện lên đường chiến đấu để bảo vệ tổ quốc.

Ông Peter Mathews chia sẻ đây là lần đầu tiên đặt chân đến thành phố Hồ Chí Mjnh, sau gần 60 năm đi qua cuộc chiến tranh: “Tôi nhẹ lòng, hạnh phúc vì thấy người Việt Nam đang được sống trong hòa bình. Đất nước các bạn, so với thời chiến tranh, thực sự mọi thứ đã thay đổi nhanh chóng".

Đây là tiếng nói của những người trong cuộc về những gì mà Mỹ đã gây ra cho Việt Nam trong suốt mấy chục năm, biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ, chiến đấu cho đất nước Việt Nam được hoà bình, độc lập như ngày nay. Ấy vậy mà cách đây không lâu, vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ lại còn cho rằng họ chưa gây ra chiến tranh cho bất kỳ quốc gia nào là sao.

Những nhân chứng sống, là những người trong cuộc như ông Peter Mathews đã bồi hồi, xúc động và thậm chí là chảy cả nước mắt là đủ biết về con người Việt Nam vừa nhân văn, vừa kiên cường, anh dũng đấu tranh với các kẻ thù đã xâm lược, gây ra chiến tranh cho đất nước và quê hương Việt Nam. Chiến tranh đã lùi xa, hy vọng những tiếng nói của người trong cuộc như ông Peter Mathews sẽ làm cho những vị nhà ngoại giao Mỹ, những vị chính khách Mỹ hãy tôn trọng sự thật, đừng lấy cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới vỏ bọc, dân chủ, nhân quyền. Nếu nói về dân chủ, nhân quyền thì Mỹ không đủ tư cách để nói chuyện với Việt Nam đâu./.

ĐÔI ĐIỀU CẢM TƯỞNG VỀ NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3


Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, đó là cả một câu chuyện lịch sử dài về cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng và hạnh phúc cho phụ nữ của nhiều nhóm phụ nữ trên toàn thế giới. Để hàng năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng 3, phụ nữ trên toàn thế giới, trong đó có phụ nữ Việt Nam được mọi người tôn vinh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế của giới mình.

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Ngay từ buổi đầu lập nước cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ như Bà Trưng, Bà Triệu, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Thị Hồng Gấm… không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà còn lao động cần cù, chịu thương, chịu khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Chính vì thế mà Đảng, Bác Hồ đã phong tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, đó không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam.

Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, người phụ nữ ngoài việc thực hiện thiên chức, vai trò, trách nhiệm của mình ở gia đình còn không ngừng học hỏi, rèn luyện, phấn đấu để trở thành người có tri thức, có kỹ năng sống, có sức khoẻ tốt nhằm tiếp cận, nắm bắt kịp thời kiến thức khoa học, kiến thức thực tiễn để phục vụ công tác, tự lập, tự chủ bản thân. Thực tế, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia các hoạt xã hội hơn và họ đã mạnh dạn xung phong làm những công việc mà từ trước đến nay chỉ dành cho nam giới. Họ đã thật sự thoát khỏi những định kiến, lễ giáo cổ hủ để vươn lên sống tốt hơn, có nhiều đóng góp hơn cho gia đình và xã hội, không ít người trong số họ đã đạt đến những địa vị rất cao và thành công trong mọi lĩnh vực.

Ngày 8 tháng 3 nữa lại về - Ngày Quốc tế Phụ nữ - là ngày để tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam và cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn và tình yêu thương dành cho các bà, các mẹ, các chị, các cô... Xin kính chúc các bà, các mẹ, các cô, các chị, em phụ nữ có một ngày lễ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc./.

NÊU GƯƠNG - MỘT PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ CỦA ĐẢNG


Nêu gương là một phương thức quản trị xã hội trong các lý thuyết triết học, chính trị từ rất lâu của loài người. Nêu gương cũng là truyền thống quý báu của dân tộc, của Đảng ta; là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng...

Qua các văn kiện của Đảng, có thể khái quát phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: một là, Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; hai là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; ba là, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức, cán bộ; bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát; năm là, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên.

Nêu gương là một phương thức quản trị xã hội trong các lý thuyết triết học, chính trị từ rất lâu của loài người. Nêu gương cũng là truyền thống quý báu của dân tộc, của Đảng ta; là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng; là một trong những nội dung cơ bản, cốt yếu, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”. Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là ở những thời điểm vô cùng khó khăn, đầy thử thách của sự nghiệp cách mạng. Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn thực hành trách nhiệm nêu gương và Bác đã trở thành tấm gương sáng ngời, có sức lan tỏa và sức thuyết phục vô cùng mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta học tập, noi theo.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng từng xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát;... Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Ngày 18/5/2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng. Việc gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, là phương thức lãnh đạo đúng đắn, hiệu quả, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ.

Nói đi đôi với làm, năm 1945, Chính phủ mới ra đời, phải đối mặt với “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Bác Hồ kêu gọi toàn dân cứu đói cho đồng bào, Bác đã nghiêm túc thực hiện trước để làm gương cho mọi người làm theo. Người nói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Người cũng từng nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.

Trong suốt các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, đã có rất nhiều sự thực hành nêu gương của các đồng chí lãnh đạo các cấp, của đông đảo cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự có tính thuyết phục, lan tỏa trong mỗi địa phương, đơn vị và toàn xã hội, góp phần quan trọng để chiến thắng giặc ngoại xâm, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao vị thế của đất nước, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân với Đảng, với chế độ.

Những kết quả đạt được là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, việc học tập, quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Vẫn có hiện tượng những người nêu gương tốt chủ yếu là những cựu chiến binh, người cao tuổi, người không giữ các chức vụ cao,... Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt, học tập, quán triệt không nghiêm túc, nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương,... Vẫn có tình trạng chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương; chưa thật sự đúng mực trong lời nói, ứng xử, việc làm; còn có những biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là, một số cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước rất nghiêm trọng, thậm chí phải xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, gây dư luận bức xúc, giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Muốn hoạt động nêu gương đạt được kết quả tốt, phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, quy định của Đảng, của các tổ chức, cấp ủy đảng về trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi tổ chức, cá nhân, nhất là những người ở cương vị chủ chốt phải có tổ chức ký cam kết cụ thể, tạo ra sự chuyển biến rõ nét qua từng thời gian, từng nội dung công việc. Chức vụ càng cao, vị trí càng quan trọng càng phải gương mẫu. Như vậy mới có tính thuyết phục, tạo ra sự lan tỏa, tác động thúc đẩy đối với cán bộ cấp dưới và toàn xã hội.

Thực hiện nêu gương cũng là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong từng hoạt động cụ thể; đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện trách nhiệm nêu gương.

Hoạt động nêu gương cần được thường xuyên, liên tục, đưa vào theo dõi, nhận xét, đánh giá trong sinh hoạt định kỳ, đưa vào chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy các cấp, làm cơ sở cho việc đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay./.

THAM GIA CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG SẼ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI CÁC TỘI HÌNH SỰ ĐẶC BIỆT NGHIÊM TRỌNG


Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện cải cách các chính sách lao động, việc làm trong nước. Đặc biệt Nhà nước luôn quan tâm đến nhu cầu của người dân, người lao động trong việc xuất khẩu lao động tại các nước, tạo cơ hội, nguồn thu nhập cao, ổn định cho người dân và thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội.

Tuy nhiên, lợi dụng một số chính sách của Nhà nước đối với công dân xuất cảnh ra nước ngoài để du lịch, học tập, lao động nhiều tổ chức phản động lưu vong người Việt, tổ chức khủng bố Việt Tân, Chính phủ quốc gia VN lâm thời… đã móc nối, lôi kéo, kết nạp người vào tổ chức, tiến hành nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài. Chúng tổ chức nhiều cuộc biểu tình, huấn luyện, đăng, tán phát nhiều tin bài có nội dung xuyên tạc, vu cáo tình hình trong nước, làm xói mòn khối đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối nội, đối ngoại và Người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ta.

Hơn thế, chúng còn kích động, lôi kéo người thân, học sinh, sinh viên tham gia vào các hoạt động chống phá có bài bản, thậm chí cử người về nước để tiến hành các hoạt động chống phá, khủng bố chính quyền tại một số tỉnh phía Nam.

Trước đó, năm 2019, theo sự chỉ đạo của Đỗ Hoàng Điềm (Chủ tịch đảng “Việt Tân), Châu Văn Khảm, quốc tịch Úc, nhập cảnh vào Campuchia, sử dụng giấy chứng minh nhân dân mang tên Chung Chính Phi để xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam qua biên giới đường bộ Campuchia. Đối tượng đã lôi kéo, kết nạp Nguyễn Văn Viễn (tài xế xe ôm công nghệ) vào tổ chức khủng bố Việt Tân. Sáng 12.1.2019, Khảm gặp Viễn tại một quán cà phê ở Q.1 (TP.HCM). Tại đây, Khảm truyền bá cho Viễn về phương thức hoạt động của Việt Tân; Đồng thời, Khảm đưa cho Viễn 400 USD để tiến hành các hoạt động khủng bố. Ngoài ra, các đối tượng còn lôi kéo Trần Văn Quyền, quê quán xã Hương Long, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh tham gia tổ chức. Các cơ quan chức năng đã bắt, xử lý các đối tượng về tội “khủng bố chống chính quyền nhân dân”. Ngày 11.11, TAND TP.HCM xử sơ thẩm các bị cáo là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân. HĐXX tuyên phạt bị cáo Châu Văn Khảm (70 tuổi, Việt kiều Úc) 12 năm tù, Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ Q.12, TP.HCM) 11 năm tù, Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại TX.Dĩ An, Bình Dương) 10 năm tù, cùng về tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015.

Hiện nay, tổ chức khủng bố Việt Tân tiếp tục tổ chức nhiều khóa huấn luyện, yểm trợ tiền vào trong nước cho số chống đối để tiếp tục kích động chống phá.

Đối với người Việt tại nước ngoài cần chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật nước sở tại và quy định pháp luật về Xuất nhập cảnh, Bộ luật Hình sự, không tham gia, tài trợ, hoạt động với các tổ chức khủng bố. Các trường hợp cố tình trốn ở lại nước ngoài, tham gia các tổ chức phản động sẽ bị nghiêm trị theo quy định pháp luật.

​Theo điều 121, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định về tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân như sau:

1. Người nào trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, đối với tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thì mức phạt tù cao nhất lên đến 20 năm.

​Mọi cán bộ, đảng viên, người dân cần nâng cao cảnh giác trước các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, nhất 

Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc


Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa.

Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội.

Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.

Bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo


Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo.

Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”.

Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân.

Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an của các thế lực thù địch


Với những luận điệu ru ngủ, Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân trong nhiều thập kỷ qua của lịch sử Việt Nam hiện đại; có quan hệ mật thiết với nhân dân, là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ đó, chúng đặt vấn đề lực lượng vũ trang “chỉ là của dân tộc”, “của đất nước”, “của nhân dân” là “phù hợp”, chứ không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào! Trơ tráo hơn, chúng còn phủ nhận tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, hòng tạo cơ sở cho việc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an nhân dân. Chúng tập trung công kích nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; cho rằng nguyên tắc đó thể hiện Đảng tự cho mình quyền đứng trên xã hội, trên luật pháp, bởi LLVT là để “bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, Đảng chỉ là một bộ phận của xã hội, sao lại giành “độc quyền lãnh đạo” cho riêng mình!

Bản chất của luận điệu này là muốn tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, công an làm cho quân đội, công an “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Chúng muốn làm biến chất một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, từ đó dễ bề làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Không chỉ những phần tử chống đối lưu vong, mà hiện nay, một số phần tử cơ hội, bất mãn ở trong nước cũng ráo riết chống phá. Trên các trang mạng xã hội, chúng thường xuyên vu khống, xuyên tạc bản chất, vai trò, chức năng của quân đội, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) luôn nhận rõ sứ mệnh lịch sử của mình đối với dân tộc và vai trò to lớn của Quân đội với sự nghiệp cách mạng. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới phù hợp với hoàn cảnh cụ thể cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định tính tất yếu phải tổ chức, lãnh đạo quân đội để quân đội trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng chỉ rõ: Phương pháp cách mạng là tiến hành bằng bạo lực cách mạng, dùng sức mạnh của quần chúng có tổ chức để đánh đổ đế quốc, tay sai, lập nên chính phủ công - nông. Quan điểm này đặt nền tảng, cơ sở lý luận, hình thành chủ trương, đường lối xây dựng quân đội cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết về “Đội tự vệ” được thông qua tại Đại hội lần thứ I của Đảng (3-1935) xác định: Công nông cách mạng tự vệ đội đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương Quân ủy của Đảng Cộng sản; luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng Cộng sản trong tự vệ thường trực. Trong lãnh đạo xây dựng, phát triển lực lượng, Đảng xác định phải làm cho các đội du kích đi đúng “con đường chính trị”; lấy đấu tranh chính trị làm cơ sở để đấu tranh vũ trang giành chính quyền. Sau khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời (22-12-1944), theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng đã được thể hiện rõ trong tổ chức của Đội; theo đó, bên cạnh hệ thống chỉ huy có chi bộ đảng, bên cạnh người chỉ huy có chính trị viên. Đây là cơ sở rất quan trọng để Đội phát huy sức mạnh giành chiến thắng ngay từ trận đầu (Phai Khắt, Nà Ngần), mở ra truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội được khẳng định và thực hiện ngay từ khi Quân đội mới thành lập cho đến nay, thông qua cơ chế, phương thức lãnh đạo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Tuy cách diễn đạt có sự khác nhau, như: “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, thống nhất về mọi mặt”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”,… nhưng về bản chất đều là một, đó là khẳng định quyền độc tôn lãnh đạo Quân đội thuộc về Đảng. Sự lãnh đạo đó được biểu hiện tập trung ở những vấn đề cơ bản: xác định đường lối quân sự, quốc phòng (QS,QP), xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân (QĐND); phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự; đảm bảo vũ khí, trang bị, nuôi dưỡng bộ đội; tiến hành công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ,CTCT), v.v. Trước yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong tình hình mới, ngày 20-7-2005, Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết 51-NQ/TW về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”. Sau khi có Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương (QUTƯ) ra Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW, ngày 17-11-2005 để lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trong đó, xác định rõ cơ chế lãnh đạo, nội dung cơ bản nhằm định hướng, chỉ đạo hoạt động của tổ chức đảng, CTĐ,CTCT, cán bộ chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội; Bộ Chính trị, Ban Bí thư (khóa XI) ban hành quy định về tổ chức đảng, tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội, làm cơ sở để thực hiện cơ chế lãnh đạo được thông suốt, vững chắc. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND Việt Nam được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và tổ chức quần chúng trong toàn quân. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, QUTƯ nghiên cứu, đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ QS,QP; lãnh đạo mọi mặt trong quân đội, lãnh đạo Bộ Quốc phòng nghiên cứu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ QS,QP; kế hoạch phòng thủ đất nước; phương hướng, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là QĐND và những đối sách xử lý các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng - an ninh, bảo đảm cho đất nước không xảy ra bất ngờ về chiến lược. Tổng cục Chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư và thường xuyên, trực tiếp là của QUTƯ đảm nhiệm CTĐ,CTCT làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo về CTĐ,CTCT trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ, đảm bảo xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội trong sạch, vững mạnh, QĐND vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu.

Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Quân đội trong mọi giai đoạn cách mạng, kể cả trong những thời điểm khó khăn, phức tạp nhất. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Được sự chăm lo, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, giữ vững lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, bản lĩnh chính trị, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, xây đắp nên truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, lập nhiều chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Quân đội tiếp tục làm tốt chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất; đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ; luôn chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối chiến lược bảo vệ Tổ quốc; đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Cùng với đó, Quân đội đang đẩy mạnh công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tích cực giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ cứu nạn, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc, tô thắm thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân..

NHỮNG CHIÊU BÀI “LỪA LỌC” QUEN THUỘC


Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thời gian qua một số đối tượng đã ra sức kích động, xuyên tạc những luận điệu sai lệch sự thật, với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng lợi dụng truyền thông, tận dụng sự phát triển của các trang mạng xã hội để chia sẻ, lan truyền thông tin xấu với động cơ lợi ích cá nhân.

Thời gian gần đây, chúng còn xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và một số địa phương. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Tần suất các bài viết được tải lên mạng hàng ngày, hàng giờ. Điều này khiến cho các công cụ tìm kiếm thông tin (chủ yếu là google) hiển thị các bài viết đó ở những vị trí đầu tiên khi được người dùng tìm kiếm. Với phương thức “mưa dầm thấm lâu”, một sự kiện xuyên tạc nhiều lần cùng một nội dung, chúng khiến cho người đọc từ bàng quan đến nghi ngại, và từ nghi ngại đến suy giảm niềm tin. Đây là thủ đoạn rất nguy hiểm của các thế lực thù địch, bởi hệ thống máy chủ đặt ở nước ngoài, việc kiểm soát rất khó khăn.

Điều nực cười hơn nữa là khi các đối tượng bị xử lý về hành vi Tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, những kẻ cơ hội khác lại kích động, lấy chiêu bài dân chủ, nhân quyền “để đấu tranh”. Chúng đòi hỏi thực hiện pháp luật trong khi chính các đối tượng trên lại là những người không tôn trọng pháp luật. Được sự hậu thuẫn của tổ chức phản động ở nước ngoài, chúng xuyên tạc cái gọi là “đàn áp nhân quyền, thiếu tự do dân chủ”, kích động chống phá, gây phức tạp tình hình ANTT. Chúng đưa ra những viễn cảnh về tự do, dân chủ nhưng không chịu tìm hiểu rằng ở những “miền đất hứa” của chúng, hành vi tương tự cũng là vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Không ai là hoàn hảo. Dù là vĩ nhân, lãnh đạo, họ cũng có những khoảng trời, cuộc sống thường nhật riêng. Những thế hệ lãnh đạo đất nước vẫn đang kiên trì, tiếp nối nhau trong thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh, tập trung chăm lo đời sống cho người dân. Dĩ nhiên, trước một chủ trương, một vấn đề, mỗi người đều có cách nhìn nhận riêng, quan điểm khác biệt. Tuy nhiên, không thể vì mưu cầu lợi ích cá nhân mà có hành vi xúc phạm, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, dù trong bất cứ trong hoàn cảnh nào.

Ai cũng có quyền tiếp nhận thông tin, quyền thể hiện, chia sẻ những quan điểm, chính kiến của bản thân trước nhiều vấn đề, sự kiện chính trị. Vậy làm thế nào để giữ cho mình sự chủ động, để không bị lung lay, tiêm nhiễm những thông tin vu cáo, bịa đặt trên mạng xã hội? Giữa mớ hỗn độn thông tin, mỗi người cần tỉnh táo để không bị lôi kéo, biến mình thành con rối của kẻ xấu, tiếp tay cho những mưu đồ thấp hèn. Điều này vừa gây nguy hại đến an ninh quốc gia, vừa vi phạm pháp luật, trái với đạo lý, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam./.


THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TỰ DO, DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY


Lâu nay chúng ta vẫn hay nói đến những từ như “tự do” “dân chủ” “nhân quyền” và thường thì đa phần mọi người hay hiểu một cách nôm na như: Tự do là không bị ràng buộc, kiểm soát; dân chủ là bình đẳng, mọi người có quyền ngang nhau; nhân quyền là quyền con người.

Bình thường thì chẳng có gì để nói vì mọi người dân Việt Nam vẫn sinh sống và làm việc hằng ngày. Điều họ quan tâm chính là công việc, cuộc sống cơm áo, gạo tiền, lo toan cho con cháu ăn học thành đạt. Họ sống và làm việc và mặc nhiên chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Không phải vì họ không hiểu biết hay họ không quan tâm, mà điều quan trọng là họ nhận thức được rằng những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước là đúng đắn, mang lại cho các tầng lớp nhân dân những lợi ích chính đáng.

Tự do, dân chủ, nhân quyền mà Đảng và Nhà nước mang lại cho người dân chính là mang lại cho họ một môi trường sống tốt, mọi người được làm chủ cuộc sống của mình trên chính quê hương, đất nước mình. Mọi người được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng. Càng ngày các cấp, các ngành càng thực hiện tốt hơn việc phát huy dân chủ. Ở các cơ quan, đơn vị, mọi cán bộ công chức, viên chức đều có quyền phát biểu, bày tỏ ý kiến của mình. Ở các thôn, tổ dân phố, địa phương, người dân có quyền bày tỏ chính kiến, thậm chí có những cuộc họp tổ dân phố, hay những cuộc tiếp xúc cử tri, các đại biểu rất hăng hái phát biểu. Việc thực hiện quy chế dân chủ: dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát ngày một tốt hơn.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thức rằng, mọi người có quyền tự do, dân chủ, đảm bảo nhân quyền nhưng không có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, bất kể những quy định, quy chế của địa phương, đơn vị, bất chấp luật pháp và hiến pháp. Ở bất cứ quốc gia nào thì cũng có những quy định riêng. Ở Việt Nam, mọi người dù làm gì, sinh sống ở đâu thì cũng phải chấp hành nghiêm hiến pháp và pháp luật. Bên cạnh những quyền được quy định trong Chương II. Quyền con người (Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013) thì mọi công dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ công dân; trong đó đáng chú ý “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng – Điều 46 Hiến pháp”; “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất – Điều 44, Hiến pháp” và “Điều 45 : Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”.

Như vậy, chúng ta thấy rất rõ bên cạnh rất nhiều quyền lợi mà mọi công dân được hưởng thì cũng phải có nghĩa vụ tuân thủ, chấp hành hiến pháp và pháp luật. Đồng thời bất cứ ai, đã là công dân Việt Nam phải có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc; bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không thể chấp nhận những kẻ sống trên quê hương, đất nước mình mà lại đi chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Không riêng gì Việt Nam mà chắc chắn tất cả các quốc gia khác cũng đều không thể chấp nhận, không thể dung thứ cho những kẻ phản bội Tổ quốc. Điều hiển nhiên đó ai cũng hiểu. Ấy vậy mà lại có những kẻ “cố tình” không hiểu và đi ngược lại.

Một số kẻ đã lợi dụng mạng xã hội, Facebook cá nhân để đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Nhất là việc lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền để làm những điều xằng bậy. Chúng vin vào cái gọi là tự do, dân chủ, nhân quyền để kêu gọi, kích động, chống đối chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước. Điều này được thấy rất rõ trên các trang Danlambao, RFA, BBC, Việt Tân… Chúng tự tô vẽ, ngợi ca những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước ta là những “tù nhân lương tâm”, là những nhà đấu tranh cho “tự do, dân chủ, nhân quyền”. Nhưng thực chất đó là những kẻ liên kết với các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Điển hình như vụ Châu Văn Khảm, mọi tội danh và những hoạt động chống phá đã rõ. Y cùng đồng bọn đã bị xử theo luật pháp. Nhưng những tổ chức chống phá, nhất là Việt Tân cố tình xuyên tạc đưa ra những thông tin vu cáo, quy kết nhằm tạo dư luận xấu đối với Việt Nam trên trường quốc tế; cùng với đó, chúng tự suy tôn cho hành vi của đối tượng là một “hoạt động cải cách Việt Nam”, đồng thời kêu gọi các nhà nước can thiệp để Việt Nam thả tự do cho Khảm và đồng bọn. Mới đây, nhân ngày quốc tế nhân quyền 10/12, trên trang Việt Tân lại liên tiếp tung ra những tin, bài, kêu gọi vận động trả tự do cho Châu Văn Khảm; dùng cách tụ tập để kêu gọi chính phủ Úc gây áp lực hơn nữa với chính quyền Việt Nam. Trắng trợn hơn chúng còn xuyên tạc rằng “Năm 2019, ông Châu Văn Khảm vào Việt Nam để tìm hiểu về tình hình nhân quyền, nhưng sau đó bị an ninh cộng sản bắt giam. …

Sự vu khống nhà hoạt động dân chủ Châu Văn Khảm, phản ánh xu hướng đàn áp dân chủ của nhà nước CSVN. Nhiều năm qua, nhà cầm quyền CS Việt Nam thường xuyên bị các chính phủ dân chủ và tổ chức nhân quyền quốc tế lên án vì sử dụng các điều khoản luật mơ hồ để bỏ tù các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo”. Thật là trơ trẽn và trắng trợn hết mức. “Tìm hiểu về tình hình nhân quyền ư”? Chính là lợi dụng cái gọi là nhân quyền để hoạt động chống phá. Mọi hành vi và chứng cứ đã rõ ràng, thế mà vẫn còn cố tình xuyên tạc. Châu Văn Khảm chỉ là một trong số những đối tượng cụ thể để các tổ chức phản động mượn cớ vin vào đó nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng vẫn dùng những chiêu bài cũ rích là lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, chống phá. Có thể lừa bịp được ai chứ với những người dân Việt Nam có trình độ, hiểu biết thì đừng hòng mà đòi đánh tráo khái niệm. Thôi hãy dừng những chiêu trò đó lại đi, đừng lợi dụng tư do, dân chủ, nhân quyền để làm những điều xằng bậy nữa./.

“NON SÔNG GẤM VÓC VIỆT NAM DO PHỤ NỮ TA, TRẺ CÙNG GIÀ, RA SỨC DỆT THÊU MÀ THÊM TỐT ĐẸP, RỰC RỠ”


Sinh thời Hồ Chủ tịch luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1952, trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ, Người nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Bức thư ấy, được đăng tải toàn văn trên báo Nhân Dân, số 49, ngày 13-3-1952. Nội dung thư đã nêu bật vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, các bà, các mẹ, các chị đã xung phong đi dân công, giúp thương binh, hòa lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành mối yêu thương không bờ bến. Người yêu cầu các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn với phong trào phụ nữ để phong trào ấy chắc hơn, rộng hơn, mạnh hơn. Đồng thời người giao nhiệm vụ cho phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ: phải thắt chặt đoàn kết thi đua tăng gia sản xuất, tiết kiệm, tích cực tham gia chính quyền, giúp đỡ bộ đội bảo vệ nhi đồng…

Khắc ghi lời dạy của Người, hiện nay, đội ngũ cán bộ nữ luôn được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ có năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc. Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt. Trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Trong Quân đội, phụ nữ luôn nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình: Họ là những người chiến sĩ, “Bộ đội Cụ Hồ”, là người mẹ tảo tần, người vợ đảm đang, người vun vén dựng xây tổ ấm gia đình. Nhiều người trong số họ là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng; đó là những người lính vững tay súng bảo vệ Tổ quốc, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VIỆC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA


Lợi dụng việc Đảng ta đẩy mạnh công cuộc chống tham nhũng, xử lý hình sự một số cán bộ cấp cao của Đảng. Đặc biệt công cuộc PCTN càng trở nên “nóng” hơn với khởi nguồn từ vi phạm pháp luật của Công ty Việt Á, trên trang “Rfavietnam”, Ban biên tập Đài RFA đưa tin với tiêu đề “Mặt trái chống tham nhũng”. Bài viết cho rằng, “cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu. Cuộc chiến chống tham nhũng ở Việt Nam từ năm 2016 đến nay khiến nhiều quan chức cấp cao vào tù hoặc đang bị điều tra. Điều này khiến các quan chức Chính phủ khác lo ngại không dám làm, sợ sai, sợ bị điều tra tham nhũng”….,

Thực chất giọng điệu trên là những tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Bởi tham nhũng thực sự là một nguy cơ, vấn nạn, nếu không được ngăn chặn, loại bỏ kịp thời sẽ phá vỡ chiến lược và kế hoạch phát triển, gây thiệt hại vật chất rất lớn cho Nhà nước và người dân; làm suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, gây ra sự bất bình, bức xúc trong dư luận xã hội và nghiêm trọng hơn là làm xói mòn, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, gián tiếp tiếp tay cho những thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Có thể nói, tham nhũng như một loại dịch bệnh nguy hiểm có thể phá vỡ bất kỳ thể chế chính trị nào. Một đảng cầm quyền còn để xảy ra tham nhũng thì nguy cơ đánh mất quyền lực là hiện hữu. Đây là bài học xương máu đã được lịch sử đúc rút. Thậm chí, nếu để tham nhũng tràn lan thì những cán bộ, đảng viên trong sáng, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc sẽ không còn động lực để phấn đấu, cống hiến, hy sinh vì lợi ích chung. Bởi vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một tất yếu, là vấn đề sinh tử, sống còn, cấp bách của bất kỳ một đảng cầm quyền nào nếu không muốn từ bỏ vị trí lãnh đạo của mình. Như vậy đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không như một số người cố tình xuyên tạc, mà nhằm: “góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân, bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối”.

Trong thời gian qua, công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, chỉ đạo đã đạt được những kết quả tích cực. Phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 – 2022 đồng chí Tổng Bí Thư nhấn mạnh: “công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận”.

Những kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Nó còn là minh chứng xác đáng để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai sự thật của các thế thù địch về cuộc chiến phòng chống tham nhũng của Đảng và nhân dân ta.

Chống tham nhũng là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp. Trong lĩnh vực này dù "không có tiếng súng" nhưng cũng đầy nguy hiểm. Nhưng chúng ta tin rằng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, "trên - dưới đồng lòng", “dọc ngang thông suốt”, cùng với việc hoàn thiện khung khổ pháp luật, nạn tham nhũng chắc chắn sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi, niềm tin của Nhân dân với Đảng chắc chắn sẽ được củng cố, nâng cao./.

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA


 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam",“Hội đồng nhân quyền Việt Nam", “Văn phòng Công lý - Hòa bình"... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc" để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông" ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa" ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom" ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên" (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng" đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự"; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc", “dân chủ, nhân quyền" trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo.

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của các thế lực thù địch, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo./.

TRỊ BỆNH TRANH CÔNG, ĐỔ LỖI


Lâu nay, trong thực thi công vụ xuất hiện nhiều loại “bệnh” trầm kha, khó chữa, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính và niềm tin của nhân dân, là một phần của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Một trong những “bệnh” điển hình là tranh công, đổ lỗi, trốn trách nhiệm. Trị “bệnh” này tận gốc đã trở thành vấn đề rất cấp thiết hiện nay.

Tranh công trạng, tranh thành tích thường xảy ra ở các cơ quan, ngành có nhiều bộ phận khác nhau và ít gây ồn ào trên phương tiện truyền thông nên dư luận khó nhìn thấy. Phổ biến nhất là hiện tượng lấy số liệu, thành tích chung của cơ quan, đơn vị, địa phương để tô hồng cho kết quả công tác riêng của đơn vị, của ngành, dù sự đóng góp chỉ dừng ở mức độ hạn chế. Ví dụ điển hình nhất là hiện tượng các tổ chức quần chúng báo cáo kết quả hằng năm rất kêu, nhưng thực chất việc tổ chức hoạt động không có gì mới ngoài mấy buổi gặp mặt, giao lưu…, còn nhiệm vụ xung kích vào “khâu khó, việc khó” thì chẳng thấy đâu.

Cùng với hiện tượng tranh công là thói đổ lỗi, trốn tránh trách nhiệm. Biểu hiện cụ thể là những người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương thường trốn trách nhiệm bằng cách khéo léo “chuyền sự vụ” cho hoàn cảnh, đổ lỗi cho cấp dưới, vin vào lý do cơ chế hoặc do sự phối hợp chưa nhịp nhàng và những nguyên nhân khác. Ví dụ, khi nhiều vụ tai nạn giao thông do xe khách giường nằm xảy ra, hiện tượng cháy xe khi tham gia giao thông liên tục xuất hiện thì một số người đứng đầu ngành Giao thông đổ cho ý thức người tham gia giao thông, ý thức của chủ phương tiện kém hay hạ tầng giao thông chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển. Ấy thế nhưng, khi một loạt các cán bộ ngành Đăng kiểm khắp cả nước bị khởi tố để điều tra thì mới thấy tình trạng “có đăng kiểm cũng như không” tồn tại dai dẳng nhiều năm qua. Từ đây, hiện tượng phương tiện giao thông không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật vẫn thỏa sức lưu hành và gây tai nạn, gây cháy mới được lý giải là có thể do những yếu kém, tiêu cực của cơ quan quản lý. Dư luận đặt câu hỏi là, vì sao người đứng đầu, cơ quan chủ quản cấp trên không phát hiện ra tiêu cực, “cấp phép sai”. Hơn nữa, hằng năm qua, những cán bộ, đảng viên vừa bị khởi tố ở các cơ quan ấy vẫn đạt các danh hiệu thi đua, được khen thưởng, được đánh giá là đảng viên hoàn thành tốt, xuất sắc nhiệm vụ và tổ chức Đảng đạt trong sạch, vững mạnh.

Đứng trước hiện tượng ấy, khi chưa có bất cứ một tổ chức, cá nhân nào đứng ra nhận trách nhiệm, thì đã có cán bộ đổ lỗi do nhân dân đưa tiền, làm hư cán bộ đăng kiểm. Đây là lời ngụy biện. Bởi thực tế, nếu tất cả cán bộ đăng kiểm không tư lợi, cùng làm đúng quy định, quy trình công tác và nếu người dân có “đút lót” nhưng kiên quyết không cầm thì chẳng có sự việc ấy xảy ra…

Thực tế cho thấy, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị cùng cấp trong hệ thống chính trị ở nước ta có ưu điểm là tạo sự minh bạch, huy động sức mạnh tổng hợp, tránh độc quyền trong thực thi. Tuy nhiên, cơ chế này nảy sinh tình trạng tranh công, đổ lỗi, trốn tránh trách nhiệm và không phát huy được vai trò giám sát nên không ít nhiệm vụ không hoàn thành mục tiêu, dẫn đến có những dự án phát triển kinh tế - xã hội chết yểu, gây thất thoát lãng phí…

Trước vấn đề này, Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đặt ra mục tiêu tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ một cách thực chất và hiệu quả. Đây cũng là cách để ngăn chặn hiện tượng tranh công, đổ lỗi, trốn trách nhiệm.

Muốn kiểm soát quyền lực cán bộ trong lĩnh vực công hiệu quả thì vấn đề tiên quyết là cần chú trọng nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, dân chủ, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể, với kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò người đứng đầu trong tham mưu, quản lý nhà nước về các lĩnh vực được đảm nhận. Tăng cường kiểm tra đột xuất; miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, mắc sai phạm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.

Mặt khác, cần mở rộng dân chủ, minh bạch thông tin, thực hiện tốt quy định của pháp luật về việc cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí, qua đó phát hiện những biểu hiện tiêu cực để có biện pháp ngăn chặn từ sớm, từ xa.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, bệnh hẹp hòi là nguyên nhân sinh ra các bệnh khác, nó nâng đỡ chủ nghĩa cá nhân. Người viết: “Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình”. Người coi những bệnh đó là một loại giặc: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”.

Thấm nhuần quan điểm của Đảng và chỉ huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để không bị nhiễm “bệnh” tranh công, đổ lỗi, trốn trách nhiệm và những bệnh khác thì cần thực hiện tốt chủ trương “rõ quy trình, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm” trong thực thi. Bởi kết quả công tác thực chất của cá nhân, tập thể trong hệ thống chính trị là cơ sở để khẳng định uy tín, củng cố niềm tin với nhân dân.

Khi “đạo” đã sáng, khi có những cán bộ, đảng viên tiên phong, tâm huyết, liêm khiết dẫn dắt nhân dân đi trên “đường quang” thì cơ đồ đất nước, dân tộc mới vững bền./.

Tỏa sáng tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta


         

          Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng.

          Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này.

          Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh… Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.

          Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.

          Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam.

          Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội./.