Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 – 22/12/2022)


Tháng 12/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với mục đích: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...".

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch-Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Dù chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng họ là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.

Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17 giờ chiều 25-12-1944) và sáng hôm sau (7 giờ ngày 26-12-1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22/12/1944 được xác định là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội của dân, do dân, vì dân; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự,... được diễn ra ở khắp làng, xã, cơ quan đoàn thể, cơ sở đơn vị...

Các hoạt động kỷ niệm ngày Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Các hoạt động nhằm mục đích nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ MỚI


Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là mục tiêu mà các thế lực thù địch, phản động không bao giờ từ bỏ trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Để thực hiện mục tiêu ấy, các thế lực thù địch, phản động không trừ bất cứ thủ đoạn nào.

Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội.., vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, các thế lực thù địch, phản động nhận thấy những thủ đoạn chống phá cũ khó thực hiện được mưu đồ. Chính vì vậy, những năm gần đây, chúng đã có nhiều thay đổi về thủ đoạn chống phá. Ngoài điều chỉnh những thủ đoạn cũ, chúng triệt để khai thác, tận dụng sự phát triển của Internet, mạng xã hội để gia tăng nhiều thủ đoạn chống phá mới cực kỳ nguy hiểm. Đặc biệt các trang web phản động có địa chỉ ở nước ngoài không chỉ đăng tải các bài viết như trước đây. Từ các bài viết chúng chuyển mạnh sang sản xuất, mở các chuyên mục đăng phát các video, clip. Để lôi kéo, cuốn hút người đọc, người xem chúng đi vào những nội dung “chuyện thâm cung bí sử”, “góc khuất Việt Nam”, “chuyện bí mật bây giờ mới kể”, “hồ sơ chưa từng công bố”… đăng tải tràn lan trên Youtube, Facebook, Tiktok,…

Nội dung các video, clip này được chúng chủ yếu bóp méo làm sai lệch bản chất các vấn đề, bịa đặt về thân thế, gia đình của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước nhằm hạ uy tín, từ đó bôi nhọ chế độ chính trị ở Việt Nam. Tiếp cận với những nội dung này nếu người xem bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng thì dễ mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Đây là thủ đoạn khá tinh vi, rất cần các đơn vị chức năng kịp thời đấu tranh ngăn chặn, mỗi người dân nâng cao cảnh giác.

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng ta đã nhận định: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Đúng như Đảng ta nhận định, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động vẫn không ngừng ráo riết thực hiện đổi mới các âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đặc biệt, lợi dụng sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của Internet và mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị liên tục đưa ra những thông tin xấu, độc nhằm kích thích sự nghi ngờ, gây phân tâm, hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây rối an ninh, trật tự, giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ. Để giúp người dân tỉnh táo, nâng cao cảnh giác trước những thủ đoạn đó, các lực lượng, cơ quan chức năng cần tiếp tục đổi mới tư duy, nhanh nhạy nhận diện cho rõ những âm mưu, thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của chúng để một mặt tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác, khẳng định các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng. Mặt khác, vạch trần sâu rõ mọi âm mưu, thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch để chủ động đấu tranh phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt kịp thời ngăn chặn sự xuyên tạc, chống phá của chúng.

BÀI VIẾT ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA


Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây vốn dĩ là một tất yếu khách quan, đã và đang đạt kết quả quan trọng, được nhân dân ta đồng tình, ủng hộ.

Thế nhưng vẫn có ý kiến cho rằng: “Chế độ một đảng thì không thể chống tham nhũng thành công”, “Tham nhũng là bản chất của chế độ một đảng lãnh đạo”. Đây là luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, hòng hạ thấp vai trò, uy tín, phủ nhận bản chất, quyết tâm chính trị của Đảng, phủ nhận thành quả đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng ở nước ta, cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, chúng ta thấy rằng, tham nhũng không phải do chế độ đa đảng hay một đảng, mà là do sự tha hóa quyền lực sinh ra. Ngay trong xã hội thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành, thậm chí còn biểu hiện rất nguy hiểm, tình trạng tham nhũng còn leo đến tận các nguyên thủ quốc gia.

Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI), một số nước theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, như: Cô-lôm-bi-a, Bra-xin, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a,... thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng”.

Ở Việt Nam, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xét về bản chất không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Nhưng tại sao tham nhũng ở nước ta vẫn còn và thực sự nó đang là thứ “giặc nội xâm”, là “kẻ thù của nhân dân”? Vì Nhà nước ta vẫn còn tàn dư của thời trước, tham nhũng, tiêu cực luôn song hành cùng tiến trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.

Về khách quan, tham nhũng là do “vi rút” của xã hội cũ để lại và tác động vào xã hội mới, phản ánh tình trạng quan liêu và sự tha hóa quyền lực. Thừa nhận điều đó không có nghĩa là chúng ta “đầu hàng”, không thể khắc phục nổi tham nhũng, nhưng nói tiêu diệt được ngay vấn nạn này, thì chúng ta lại rơi vào không tưởng. Cần thấy rằng, ảnh hưởng của những “vi rút” đó đối với con người và xã hội, cũng như việc khắc phục nó đến đâu lại do sức đề kháng của chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị.

Thực tiễn có thể khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ phẩm chất, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và nhân dân lao động, đảm bảo cho họ thực sự làm chủ cuộc sống, thoát khỏi đói nghèo, bất công, áp bức, phấn đấu đạt được “ấm no, tự do, hạnh phúc”. Bản chất cách mạng, tính tiền phong của Đảng và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả. Đây là vấn đề tất yếu khách quan, xuất phát từ chính nội lực của Đảng.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, với quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, được sự đồng lòng, giúp sức của mọi tầng lớp nhân dân và có hiệu quả, “lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy” đang thực sự tạo niềm tin vững chắc trong nhân dân. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Như vậy, Đảng ta không chỉ có quyết tâm chống tham nhũng mà còn có đủ năng lực chống tham nhũng hiệu quả. Kết quả đó có sự đóng góp quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Đó là sự thật không thể bác bỏ. Vì thế, không thể xuyên tạc rằng, Đảng ta không đủ khả năng lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả.

Luận điệu “Chế độ một đảng thì không thể chống tham nhũng thành công”, “Tham nhũng là bản chất của chế độ một đảng lãnh đạo” là luận điệu sai lầm, phản động. Cả về lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Chỉ có cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, thoái hóa, biến chất, thiếu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới có thể tham nhũng, suy thoái, nếu để tình trạng này phát triển thì rất khó chống tham nhũng hiệu quả.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta đang diễn ra rất quyết liệt, không có vùng cấm, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực. Những kết quả đạt được trong cuộc đấu tranh này thời gian qua đã tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong thời gian tới./.

THỦ ĐOẠN TINH VI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 Vừa qua, trong khi công cuộc phòng chống tham nhũng của Đảng đã có những kết quả tích cực được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ thì các thế lực thù địch với những mưu đồ thâm độc, chúng đã sử dụng các trang mạng xã hội, tự xưng là những người “yêu nước”, “dân chủ”, “lên tiếng vì sự thật”… Chúng bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo các thông tin về công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng ta. Những âm mưu và quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta thể hiện qua những nội dung sau:

Chúng  quy chụp, ngụy biện rằng, chế độ một đảng là nguyên nhân gây ra tham nhũng. Với những suy luận thiếu logic, phi khoa học như: “Một đảng lãnh đạo sẽ không có dân chủ trong kiểm soát quyền lực”, “quyền lực tập trung vào một đảng sẽ dẫn tới độc tài”, “chỉ có tam quyền phân lập mới có thể chống được tham nhũng”… thế lực thù địch cho rằng tham nhũng có nguồn gốc xuất phát từ đảng cầm quyền. Chúng xuyên tạc rằng Đảng ta sẽ không thể chống được tham nhũng vì tham nhũng là “căn bệnh nan y” xuất phát từ Đảng. Với những luận điệu vô căn cứ này, chúng muốn bôi nhọ, phủ nhận quyết tâm và nỗ lực phòng, chống tham nhũng của Đảng.

Các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt rằng, “chống tham nhũng chỉ là cái cớ được dựng lên, thực chất Đảng Cộng sản Việt Nam đang thanh trừng phe cánh, đấu đá nội bộ”. Với những thủ đoạn cắt ghép, bịa chuyện, thêu dệt, các thế lực thù địch dựng nên những câu chuyện, mà theo chúng là “thâm căn bí sử” về “phe cánh”, “đấu đá” trong Đảng; chúng sử dụng các trang mạng xã hội để đăng tải những bài viết, những nguồn tin thiếu căn cứ, những câu chuyện do chúng vẽ ra nhằm tạo cho người theo dõi những nhận định không đúng đắn, hướng lái người đọc vào mục đích, ý đồ của thế lực thù địch. Thủ đoạn của chúng khá tinh vi khi lồng ghép “nửa thật, nửa giả” để tạo niềm tin, ngoài ra, chúng “nhắc đi, nhắc lại” ở nhiều diễn đàn, nhiều thời điểm nhằm mục đích “mưa dầm thấm lâu”. Từ những luận điệu và thủ đoạn trên, âm mưu của các thế lực thù địch là gây tâm lý hoang mang, hoài nghi trong quần chúng nhân dân về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng; phủ nhận quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng ta, gây chia rẽ nội bộ trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh và sức chiến đấu của Đảng, từ đó tạo điều kiện để chúng thực hiện mưu đồ như: Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta…

Tinh vi và xảo quyệt hơn, các thế lực thù địch sử dụng chính kết quả đấu tranh, xử lý tham nhũng của Đảng ta để chống phá công cuộc phòng, chống tham nhũng. Khi chúng ta xử lý kỷ luật cán bộ do có liên quan đến tham nhũng, chưa xử lý hình sự thì chúng xuyên tạc rằng đây là “bao che, dung túng”, “là đảng viên nên được kỷ luật mềm”… Đến khi chúng ta xử lý hình sự, đưa công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng thì chúng xuyên tạc, cho rằng đây là “thành quả”, “công lao” của chúng khi góp phần tạo nên “tiếng nói dân chủ” giúp cho “bộ máy công quyền Việt Nam” trong sạch hơn.

Dù với luận điệu nào thì mục đích mà các thế lực thù địch đều muốn tác động nhằm thay đổi nhận thức, niềm tin của quần chúng nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên vào công cuộc phòng, chống tham nhũng; từ đó lôi kéo, thành lập các tổ chức chống Đảng, Nhà nước, mục đích cao nhất là đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Điều đáng nói có một số người đã tỏ ra đồng tình, ủng hộ, thậm chí là tuyên truyền, cổ súy cho các luận điệu sai trái đó, cá biệt có những trường hợp là cán bộ, đảng viên do nhận thức chính trị kém đã tin theo những luận điệu rất tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch.

Việc nhận diện đầy đủ và đấu tranh phản bác, thuyết phục, vạch rõ những điểm giả dối, phản cách mạng, phản khoa học của các thế lực thù địch là vô cùng quan trọng đối với mỗi người khi sử dụng mạng xã hội, là trách nhiệm của mỗi công dân với đất nước trong giai đoạn hiện nay.

PHẢN BÁC NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI XUYÊN TẠC SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM


Trong âm mưu chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thì tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề mà chúng đặc biệt quan tâm. Bởi đây là lĩnh vực “nhạy cảm”, nên việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống Việt Nam đã trở thành quy luật từ trước đến nay.

Âm mưu lâu dài của các thế lực thù địch, phản động chống Việt Nam rất rõ ràng, chúng thường lợi dụng những sơ hở trong các hoạt động tôn giáo để vu cáo, xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đàn áp tôn giáo, hòng tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc và tín đồ tôn giáo.

Trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch và các nước phương Tây, hằng năm cứ đến dịp tháng 3, tháng 9, họ lại tự cho mình cái quyền công bố báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở các nước trên thế giới.

Các tổ chức nhân quyền, các phương tiện thông tin của Mỹ và các nước phương Tây được dịp phụ họa, “tát nước theo mưa” tuyên truyền rùm beng về cái gọi là “vi phạm các quyền con người”, “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới”; trong đó, họ cho Việt Nam là một trong những nước trọng điểm bị chỉ trích.

Những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động với bản chất xuyên tạc và một thái độ áp đặt, chủ quan, đòi hỏi một “tiêu chuẩn kép” về “dân chủ, nhân quyền”, tự do tôn giáo; vẫn một thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo sự thật một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Họ muốn tạo sự hoài nghi về đường hướng lãnh đạo của Đảng Cộng sản, các chính sách, pháp luật của Nhà nước ta có liên quan đến tôn giáo và hoạt động tự do tôn giáo. Đồng thời, dùng mọi thủ đoạn thâm độc xuyên tạc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Việc làm trên của các thế lực phản động, thù địch vừa tạo phản ứng tiêu cực của các chức sắc cực đoan và số tín đồ cuồng tín tìm cách tạo dựng các vụ việc phức tạp mang màu sắc của tôn giáo hòng phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội và mục đích cao nhất là dùng sức mạnh của tôn giáo để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định tại Điều 12 Chương I khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền.

Là một nước đa tôn giáo, nhưng cộng đồng các tôn giáo hoạt động ở Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc; đồng thời, là nhân tố xã hội và văn hoá tích cực góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Việt Nam còn là một đất nước rất ôn hoà trong quan hệ giữa các tôn giáo, có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không mâu thuẫn.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, quan hệ tích cực và mang tính xây dựng giữa các tôn giáo và Nhà nước đã được thể hiện rất rõ và ngày càng được củng cố. Đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết hoà hợp các tôn giáo là nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm cho mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo; khắc phục thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ, hợp tác đầu tư với nước ngoài, cũng đang nảy sinh tình trạng sơ hở, mất cảnh giác trong các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế, văn hoá, tư tưởng và trong quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cùng với những biểu hiện tiêu cực của cơ chế thị trường, là những điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta trên các mặt trận chính trị, tư tưởng văn hoá, xã hội bằng những âm mưu, thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường làm là: phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.

Tuyên truyền đề cao các giá trị của chủ nghĩa tư bản về thể chế chính trị, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; chia rẽ giữa nhân dân, Quân đội, Công an với Đảng, Nhà nước; chia rẽ lương giáo với các tổ chức quần chúng khác trong hệ thống chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chạy theo ham muốn vật chất tầm thường, gieo rắc văn hoá đồi truỵ, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan…

Vì vậy, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên.

Hiện nay các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước ta thông qua việc họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật về “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” ở Việt Nam trên các trang mạng Internet, mạng xã hội Facebook, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Suy cho cùng hòng làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Đây là “bài học” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã dành nhiều thời gian, công sức “nghiên cứu, đúc kết” từ những cuộc xung đột chính trị xảy ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới những năm gần đây.

Mặt khác, cần  đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đó là những cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những thành tựu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta sau hơn 30 năm đổi mới.

Đồng thời, là cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”, “tà giáo”; lợi dụng tự do tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

KIÊN TRÌ, KIÊN QUYẾT BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO THIÊNG LIÊNG

 

          Biển Đông có vị trí địa – chính trị quan trọng toàn cầu, tuyến vận tải biển huyết mạch trên thế giới nhiều năm nay đã trở thành một điểm nóng về an ninh và ổn định cũng như tự do hàng hải, hàng không do tranh chấp chủ quyền của các bên liên quan. Biển Đông có tổng diện tích khoảng 3,5 triệu km2 cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, thủy sản dồi dào từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là nơi diễn ra cuộc tranh chấp “5 nước 6 bên” gồm: Brunei, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, Philippines, Trung Quốc và Việt Nam. Trong đó, Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử.

          Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

          Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác và biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Ngoài ra các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

          Hiện nay, trên một số trang mạng, các thế lực thù địch lợi dụng những “điểm nóng” trên Biển Đông để xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động dư luận, gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội; làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

          Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

          Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

          Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

          Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…đây là lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

CẦN TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ

 


Nguồn sức mạnh, nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam chính là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, từ trước đến nay, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tôn giáo.

Ngày 17/11/2022, trên trang blog Việt Nam Thời Báo đối tượng Thục Quyên phát tán bài “Đối tượng của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài”; Ngày 20/11/2022, trên trang Blog Tiếng Dân phát tán bài“Mục tiêu của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam”, nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về công tác người Việt ở nước ngoài; vu cáo chính quyền Việt Nam “phân biệt” Việt kiều hồi hương; kích động, chia rẽ chính sách người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ta.

Với những kiểu tiêu đề, giọng điệu đầy chất kích động, chia rẽ. Mục đích của chiêu thức này không gì khác là kích động, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng, chính quyền; tình đoàn kết giữa đồng bào trong nước và kiều bào ta ở ngoài nước.

Cần phải khẳng định ngay rằng, tác giả của những bài viết, hình ảnh, video, âm thanh ấy không dựa trên các nguồn tin chính thống mà dựa vào những thông tin cóp nhặt, cắt ghép để suy diễn, bóp méo, xuyên tạc sự thật nhằm mục đích chống phá Việt Nam. Phát tán các bài viết, hình ảnh, video ấy, những kẻ vô lương, vô luân, vô trách nhiệm hoàn toàn không phải vì đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc, mà thực chất là nhằm mục đích kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trước các cơ quan chức năng của Việt Nam, đã có những kẻ khai nhận được sự hà hơi, tiếp sức của một số tổ chức phản động ở nước ngoài để thực hiện công việc ấy. Mục tiêu lớn nhất mà họ hướng đến là chia rẽ mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp. Mục tiêu sâu xa hơn của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Chúng ta cần nhận thức rõ, trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, yêu cầu cao nhất của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vẫn là khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Đó chính là cội nguồn sức mạnh, nhân tố quyết định đối với sự trường tồn và phát triển của đất nước ta.

Chúng ta không phủ nhận những tiện ích mà Internet, mạng xã hội đem lại cho nhân loại, trong đó có nhân dân Việt Nam. Nhưng với những tổ chức, cá nhân thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị thì Internet, mạng xã hội được chúng coi là phương tiện số một để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá Việt Nam. Trước thực tế đó, chỉ có tinh thần cảnh giác cao độ, sự tỉnh táo, tinh thần đoàn kết đồng lòng của toàn dân, cùng sự kiên quyết của các nhà quản lý chúng ta mới có thể tẩy chay, ngăn chặn được những diễn đàn, trang mạng của những kẻ “lòng lang, dạ sói” như đã nói./.

SỰ PHI LÝ, PHẢN ĐỘNG CỦA LUẬN ĐIỆU “NHÂN QUYỀN CAO HƠN CHỦ QUYỀN”.


Nhằm phục vụ mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, những năm qua, các thế lực phản động trong và ngoài nước ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ với hàng loạt hoạt động phá hoại trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh những vấn đề như dân chủ, dân tộc, tôn giáo,… nhân quyền đang trở thành một “mặt trận nóng bỏng”, một “vấn đề trọng điểm” mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để chống phá nhằm gây mất ổn định tình hình chính trị - xã hội nước ta; tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải không ngừng nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh vô hiệu hóa “vũ khí nhân quyền” của các thế lực thù địch.

Cần phải khẳng định ngay rằng, sử dụng nhân quyền như một thứ “vũ khí” để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân các nước tiến bộ, nhất là chống các nước xã hội chủ nghĩa là một chiến lược bài bản và lâu đời của các thế lực đế quốc hiếu chiến phản động. Những năm 90 của thế kỷ trước, một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự sụp đổ nhanh chóng của Liên Xô và các nước Đông Âu chính là vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… bị lợi dụng, chống phá. Dưới bàn tay của các thế lực thù địch, những vấn đề trên đã gây nên nhiều chia rẽ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội, làm suy yếu sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Quân đội Xô Viết.

Đối với nước ta, thời gian qua, cùng với việc xuyên tạc, vu cáo, bóp méo tình hình đời sống dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch còn đẩy mạnh tuyên truyền nhiều luận điệu phản khoa học, phi thực tế như “nhân quyền tối thượng”, “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới”,… Theo đó, nhân quyền đã thực sự trở thành một “vũ khí” chống phá hết sức nguy hiểm mà kẻ thù tìm mọi cách lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, phá hoại sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, núp dưới danh nghĩa những “nhà nhân quyền”, “nhà dân chủ”, các thế lực phản động ra sức cổ vũ, ủng hộ cho “tự do nhân quyền”, “tự do ngôn luận”,… Vậy thực chất của cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là gì? Phải chăng trong thế giới hiện nay, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hay “quyền con người” cao hơn chủ quyền thiêng liêng của quốc gia, dân tộc? Đây là luận điểm thực sự vì con người hay chỉ là một “thủ đoạn chính trị” của các thế lực thù địch?

Cho đến nay, sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Đại hội Đại biểu lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân”. Cùng với sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công ngiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mọi nguồn lực xã hội đều được tập trung cho việc nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(4). Đây chính là biểu hiện cao nhất, cụ thể nhất, thiết thực nhất của vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.

Như đã phân tích, với chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, các thế lực phản động trong và ngoài nước đang tìm mọi cách lợi dụng vấn đề nhân quyền nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chúng ta cần nâng cao cảnh giác, chủ động làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù thông qua "vũ khí nhân quyền”. Đồng thời, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII. Tiếp tục tham gia tích cực vào những hoạt động bảo đảm quyền con người; thực sự chăm lo, bảo vệ những quyền cơ bản của quần chúng nhân dân lao động góp phần xây dựng, và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - "nền dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” như V. I. Lênin đã khẳng định.

ĐẤU TRANH LẠI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG “TẦNG LỚP TRI THỨC MỚI CÓ SỨ MỆNH LỊCH SỬ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY”

 

Sự phát triển bùng nổ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) hiện nay đã và đang giúp cho nhiều quốc gia phát triển vượt bậc về mọi mặt. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền, quan điểm sai trái cho rằng: “Trước sự phát triển của kinh tế tri thức và kinh tế số, giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều mặt, nên không còn vai trò lãnh đạo xã hội; vai trò ấy đã thuộc về trí thức. Thực chất luận điểm này là phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Từ đó phủ nhận hoàn toàn hệ thống lý luận khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang tiến hành.

Khẳng định luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, phản khoa học, phản động về chính trị; thực chất là muốn phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Các thế lực thù địch lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ và những biến đổi lớn của xã hội để suy diễn cho rằng giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều mặt, nên không thể lãnh đạo xã hội và rồi quy nạp vai trò lãnh đạo xã hội về cho trí thức. Quan điểm này được đưa ra một cách chủ quan mà không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào.

- Về lý luận: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự đẩy mạnh phân công lao động xã hội theo ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số đã làm chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu giai cấp theo hướng đa dạng và tạo ra không gian rộng mở cho sự phát triển nhiều mặt của giai cấp công nhân với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia công nghiệp hóa. Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, thể hiện rõ nét trong kinh tế tri thức, kinh tế số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với những đóng góp từ lao động của trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì những lý do sau:

 Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trí thức không phải là một giai cấp, mà là một lực lượng xã hội đặc biệt, có nguồn gốc xuất thân không thuần nhất. Trí thức không đại diện cho một phương thức sản xuất độc lập nào, trí thức chỉ độc lập nghiên cứu, sáng tạo; sản phẩm của trí thức là lý thuyết, phát minh, sáng chế, tồn tại dưới dạng những giá trị lý thuyết tinh thần là chủ yếu. Trí thức không là giai cấp độc lập; không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”; Lênin chỉ rõ: “nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”.

- Về thực tiễn: lịch sử loài người cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ cũng phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất tiến bộ. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi giai cấp lãnh đạo xã hội phải trung thành với lới ích của giai cấp, dân tộc, có hệ tư tưởng tiên tiến, có Đảng Cộng sản lãnh đạo, có đường lối lãnh đạo đúng, có mục tiêu nhân văn vì giải phóng con người; có bản chất quốc tế và bản sắc dân tộc sâu sắc; trong lịch sử trí thức chưa bao giờ lãnh đạo thành công cuộc cách mạng nào. Như vậy, trí thức không có được một tiêu chuẩn, giá trị nào trong hệ thống các giá trị chuẩn mực nêu trên.

Từ xưa đến nay, trí thức tồn tại với tư cách là lực lượng xã hội đặc biệt. Số lượng trí thức không đông bằng giai cấp công nhân và nông dân, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị - xã hội độc lập, không thể so với sự đông đảo của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Trên thực tế, trí thức chỉ tồn tại và phát triển dựa vào giai cấp công nhân hoặc nông dân, dựa trên lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp để trí thức áp dụng kiểm nghiệm đánh giá kiểm tra tính khả thi các lý thuyết, phát minh, sáng chế, thiết kế của mình trong thực tiễn; qua đó trí thức mới tồn tại và phát triển.

Qua thực tiễn hoạt động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học đã làm cho đội ngũ trí thức ngày càng nhận rõ sứ mệnh lịch sử của của giai cấp công nhân và tìm thấy lợi ích của mình trong cuộc đấu tranh chung, thực hiện mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là mẫu số chung, để cho công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động gắn bó với nhau trong một khối liên minh thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Vì thế, ngày càng có nhiều trí thức đi theo giai cấp công nhân, chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: "Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân - nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng". Giai cấp công nhân nước ta không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng.

Hiện nay, giai cấp công nhân nước ta có khoảng 20,5 triệu người, có sự phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu, lĩnh vực, ngành nghề; trình độ tay nghề, vai trò của giai cấp công nhân càng ngày được khẳng định. Giai cấp công nhân nước ta hiện chiếm tỷ lệ khoảng 14% dân số, 27% lực lượng lao động xã hội, nhưng hằng năm đã tạo ra trên 65% giá trị tổng sản phẩm xã hội và hơn 70% giá trị thu ngân sách Nhà nước. Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta không hề suy yếu, ngược lại giai cấp công nhân Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ vai trò của giai cấp lãnh đạo xã hội, trở thành nền tảng chính trị đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh Nhà nước.

Qua hơn hơn 35 năm đổi mới, sự biến đổi của giai cấp công nhân là do tác động từ nhiều yếu tố, nhất là từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, cho dù sự biến đổi kinh tế, xã hội đến đâu, khoa học, công nghệ có phát triển tới mức nào, thì một thực tế không thể phủ nhận đó là: giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên sứ mệnh lịch sử lãnh đạo xã hội

Nâng cao ý thức cá nhân để xây dựng không gian mạng lành mạnh


Không gian mạng ngày nay trở thành một không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng Internet và mạng xã hội để xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; phát tán tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngay sau khi Luật An ninh mạng của nước ta được ban hành cũng bị một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí xuyên tạc, phản đối, phủ nhận.

Không những thế, không gian mạng còn có thể bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Thời gian qua, không ít những vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải những lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân khác. Từ các vấn đề nêu trên, có thể nhận thấy bảo vệ an ninh mạng càng quan trọng hơn bao giờ hết, đây không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan chức năng, mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân. Vì vậy, để xây dựng “không gian mạng lành mạnh”, thì mỗi người dân cần làm tốt một số nội dung sau:

Một là, Mỗi cá nhân cần nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng.

Theo đó, Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

Luật An ninh mạng quy định rõ những hành vi bị cấm như: sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử...). Những quy định này không xâm phạm đến quyền con người, không cản trở tự do ngôn luận, không tạo rào cản, không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân như những thông tin trên mạng xã hội, blog, web phản động tuyên truyền, xuyên tạc trong thời gian vừa qua. Thực hiện đúng Luật, nghĩa là bảo vệ chính mình, người thân và gia đình, đồng thời, góp phần bảo vệ an  ninh mạng quốc gia.

Hai là, Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời...; các thủ đoạn tạo vỏ bọc “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”,... để chống phá; các website giả mạo, các trang mạng có nhiều nội dung thông tin xấu, độc.
           Mỗi người cần nắm chắc các thủ đoạn tấn công mạng như đánh sập các website; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua USB, đĩa CD…
          Ba là, Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc các đường link; cảnh giác với trang web lạ (web đen), E-mail chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.
Sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như tạo thói quen quét virus; thực hiện sao lưu dự phòng trên ổ cứng ngoài, trên mạng nội bộ hoặc trên các dịch vụ lưu trữ đám mây; kiểm tra lộ lọt thông tin tài khoản cá nhân qua Trung tâm xử lý tấn công mạng Việt Nam. Khi phát hiện bị tấn công mạng, nhanh chóng ngắt kết nối mạng; sử dụng các công cụ giải mã độc; báo cho người có trách nhiệm qua đường dây nóng.

Bốn là, cần biết cách tận dụng, sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mang kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hóa mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

Năm là, Phổ biến, tuyên truyền trong gia đình, người thân, bạn bè và Nhân dân nơi cư trú các quy định của Luật An ninh mạng để mọi người nắm, hiểu và không thực hiện các hành vi vi phạm liên quan đến an ninh mạng, góp phần xây dựng “không gian mạng lành mạnh từ cơ sở”.

Với đặc tính không biên giới, không gian mạng có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và tác động đến toàn thế giới. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng bảo đảm an toàn, an ninh mạng của các doanh nghiệp đến ý thức tham gia xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người dân.

III. HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN  NAY

          Hiện nay kẻ thù và các thế lực thù địch đang tìm mọi cách phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, Nhà nước ta. Nhất là vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện, ngày lễ lớn, chiêu trò này được chúng sử dụng càng nhiều. Đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, mặc dù kết quả chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng, nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận đối ngoại cũng bị chúng xuyên tạc hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

          Có thể thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó, tính chủ động cần được đặt lên hàng đầu.

          Trước hết chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

          Sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch.

          Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết, nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi, đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

Đòi hỏi rập khuôn nguy hiểm

 

Hiện nay, trong xã hội và ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên xuất hiện không ít ý kiến cho rằng, để Việt Nam tăng tốc phát triển, thoát bẫy thu nhập trung bình thì cần phải rập khuôn mô hình phát triển kinh tế, sao chép luật pháp, sao chép hệ thống giáo dục, sách giáo khoa của các nước phát triển. Thực tế cho thấy, những đòi hỏi trên là vô lý và nguy hiểm. Bởi sự rập khuôn đó rất dễ dẫn đến những sự chuyển hóa về chất của cả thể chế chính trị, xã hội và con người của một quốc gia.

Đòi “tam quyền phân lập” - sự đánh tráo giá trị.

Nói về những đòi hỏi rập khuôn nêu trên xin được chỉ ra những ví dụ. Đầu tiên cần phải nhắc tới ý kiến đòi hỏi rập khuôn về mô hình tổ chức quyền lực nhà nước theo “tam quyền phân lập”. Những người yêu cầu rập khuôn mô hình nói trên cho rằng, chỉ có phân chia quyền lực nhà nước theo “tam quyền phân lập” thì mới kiểm soát được quyền lực, mới ngăn chặn được tham nhũng.

“Tam quyền phân lập” với tư cách là một học thuyết là sản phẩm của nền dân chủ phương Tây. Có thể xem, học thuyết phân quyền có giá trị về chính trị-kỹ thuật pháp lý trong tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi theo học thuyết này, quyền lực nhà nước không được tập trung vào một người hay một cơ quan mà được cấu thành từ 3 quyền cơ bản: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền được giao cho 3 cơ quan khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập tương đối với nhau. Giữa 3 quyền này có sự kiểm soát, thậm chí có sự kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. Hiện nay, các nước vận dụng học thuyết này hết sức đa dạng, muôn màu, muôn vẻ. Cũng phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cách thức tổ chức mỗi quyền thì ở từng nước quy định rất khác nhau. Có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp không có sự độc lập đối trọng chế ước lẫn nhau (như nước Anh) mà dựa vào phe đối lập thiểu số trong nghị viện. Có nước, giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp lại độc lập, kiềm chế và đối trọng một cách cứng rắn (như nước Mỹ); có nước, kiềm chế đối trọng một cách mềm dẻo giữa các quyền (như ở Đức).

Việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư sản khác nhau, bởi tổ chức quyền lực nhà nước về phương diện chính trị và kỹ thuật pháp lý phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như: Tương quan lực lượng giữa các giai cấp, nhất là trong nội bộ của giai cấp cầm quyền, đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở trong nước và trên trường quốc tế, tư tưởng lập hiến của những người đương thời... Tất cả yếu tố đó đều là những nhân tố chi phối và ảnh hưởng đến việc vận dụng học thuyết phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi nước.

Vì thế, không thể nói đơn giản rằng phân quyền theo mô hình của nước này thì tốt, còn theo mô hình của nước kia thì không tốt, theo mô hình này thì dân chủ, theo mô hình kia thì không có dân chủ. Trên thế giới tuyệt nhiên không có sự sao chép, rập khuôn máy móc mô hình tổ chức nhà nước của nước này cho nước kia. Những đòi hỏi cho rằng, tổ chức quyền lực nhà nước của nước này phải giống nước kia mới có dân chủ và quyền con người chỉ là sự nhầm tưởng của một số người.

Tại Việt Nam, mô hình tổ chức nhà nước của chúng ta không thực hiện “tam quyền phân lập” mà theo Hiến pháp 2013 thì “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Những minh chứng trên thực tế đã cho thấy mặc dù không thực hiện “tam quyền phân lập” nhưng việc kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng có kết quả tích cực, các giá trị về dân chủ, quyền con người được Nhà nước ta thực hiện tốt, phù hợp với trình độ phát triển, được quốc tế công nhận.

Không thể có một mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia

Trong xã hội còn có những đòi hỏi cải cách thể chế để tăng tốc phát triển kinh tế. Có ý kiến cho rằng, cần phải áp dụng thể chế kinh tế của các nước phát triển thì Việt Nam mới thoát được bẫy thu nhập trung bình. Câu hỏi đặt ra là, vậy liệu có mô hình phát triển nào có sẵn phù hợp để bê nguyên xi vào Việt Nam hay không? Tại sao mô hình Anh, Mỹ đưa lại sự phát triển cho Anh, Mỹ, Australia, New Zealand, Canada nhưng lại không đưa lại sự phát triển cho Philippines. Trước đây, Ấn Độ là thuộc địa của Anh nhưng mô hình thể chế của Anh cũng không đưa lại sự phát triển đột biến ở Ấn Độ. Tại sao lại như vậy? Tại sao mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đưa lại sự thịnh vượng và đưa một số nước có văn hóa Đông Bắc Á từ nước đang phát triển lên thành nước phát triển, nhưng mô hình này không thành công với các nước khác?

Cũng để nhằm xây dựng thể chế phù hợp cho phát triển kinh tế, nhiều ý kiến lại cho rằng Việt Nam không cần vất vả trong xây dựng luật pháp, mà chỉ cần áp dụng các luật tiến bộ của các nước phương Tây.

Điều này bị chính các nhà nghiên cứu của các nước phương Tây phủ định. Nhà chính trị học kinh điển người Pháp Pierre Legrand đã bác bỏ khả năng rập khuôn pháp luật nước ngoài: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn”. Thực tế cho thấy, vào thập niên 1960, Mỹ đã thất bại trong việc “xuất khẩu” những tư tưởng pháp lý vào các nước Nam Mỹ, châu Phi; hoặc các nước XHCN cũ vay mượn những khái niệm, chế định của Liên Xô cũng thất bại... Ở Việt Nam, việc áp dụng máy móc pháp luật Liên Xô thời mệnh lệnh hành chính đã cho thấy những bất cập. Và ngay cả những quy định của pháp luật phương Tây nếu áp dụng máy móc cũng không thể thực hiện được, ví dụ như Luật Phá sản năm 2004 hay Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trong các trường hợp này, những từ ngữ pháp lý xa lạ được bê nguyên xi vào bối cảnh nội địa. Cùng với đó, người làm luật nếu chỉ chú trọng du nhập văn bản và quy định pháp luật, mà ít lưu tâm đến những học thuyết làm nền tảng cho các quy định đó vận hành thì luật khó điều chỉnh được quan hệ pháp lý ngoài thực tiễn.

Bởi pháp luật liên quan tới thể chế chính trị, pháp luật bị ảnh hưởng bởi văn hóa, thực trạng xã hội nên việc tiếp nhận pháp luật phải kéo theo việc tiếp nhận quan điểm, học thuyết về pháp luật sẽ không dễ dàng. Luật chỉ có thể có hiệu lực thực tế nếu tồn tại các tiền đề cần thiết trong xã hội. Tiếp nhận quan điểm pháp luật cần phải phù hợp với môi trường chính trị, xã hội, tập quán, truyền thống, đạo đức trong xã hội Việt Nam.

Giáo dục phải hướng tới mục tiêu xây dựng con người Việt Nam XHCN

Đối với lĩnh vực giáo dục, mục tiêu của hệ thống đào tạo của Việt Nam là phải đào tạo ra các công dân Việt Nam-một nước XHCN, có truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Vì vậy, hệ thống giáo dục-đào tạo của Việt Nam phải đáp ứng các chuẩn mực về chính trị và văn hóa, cùng với đó mới là tiếp nhận các giá trị chung tiến bộ của nhân loại. Mọi ý muốn sao chép, rập khuôn hệ thống giáo dục, sách giáo khoa của nước khác đều sẽ mang lại rủi ro lớn nếu không bám vào các chuẩn mực giáo dục của Việt Nam, nếu thiếu kiểm soát.

Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, trước rất nhiều sức ép về chính trị, kinh tế, nếu mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không tự định vị được giá trị, bản sắc của mình thì rất dễ bị hòa tan và biến mất. Một quốc gia có thể mất chủ quyền ngay cả khi chưa có tiếng súng xâm lược nào vang lên, lãnh thổ quốc gia chưa bị xâm phạm. Ấy là khi người dân của quốc gia, dân tộc đó không còn thực sự hiểu rõ về mình, về cội nguồn của mình. Cho nên, đối với những vấn đề phát triển của một quốc gia như xây dựng thể chế, tăng trưởng kinh tế, các giá trị của dân chủ, quyền con người... đều phải phù hợp với hệ giá trị mà quốc gia đó định hướng xây dựng. Hội thảo quốc gia "Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới" dự kiến được tổ chức ngày 29-11-2022 tại Hà Nội là một cơ hội rất cần thiết để các nhà nghiên cứu bàn luận, khẳng định về hệ giá trị của Việt Nam. Đó sẽ là lời nhắc nhở, soi rọi ra các vấn đề của xã hội, để đất nước ta phát triển mà không đánh mất bản sắc của mình.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2022

BÁO CHÍ PHẢI TUÂN THEO PHÁP LUẬT, KHÔNG CÓ “NHÀ BÁO TỰ DO”

 

Chúng ta chẳng hề xa lạ gì việc từ lâu các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên sử dụng chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cũng như gần đây như đã thành thông lệ, chuẩn bị khép lại năm cũ là một vài tổ chức phi chính phủ được Hoa Kỳ tài trợ lại đưa ra những bản báo cáo về từng lĩnh vực mà một trong những điểm chung nổi lên vẫn là bức tranh nhân quyền ở Việt Nam không mấy sáng sủa.

Cùng với phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong bảo đảm quyền con người, các thế lực thù địch, phản động ra sức bóp méo, tuyên truyền xuyên tạc làm sai lệch bản chất các vấn đề trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người để từ đó vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền. Những đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân… bị các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý được chúng gắn cho cái mác là “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh vì nhân quyền”… rồi gọi họ là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”… để vu cáo rằng, “Việt Nam đàn áp những người bất đồng chính kiến”…

Việc một số tổ chức, cá nhân núp bóng nhân quyền gắn cho những cư dân mạng vi phạm pháp luật bị các cơ quan chức năng xử lý cái danh “nhà báo tự do” là sự “nhập nhèm đánh lận con đen” nhằm dụng ý xấu chống phá Việt Nam. Thực chất họ chỉ là những cư dân mạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do Internet để vi phạm pháp luật Việt Nam.

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam không có nhà báo nào phải vào tù vì hành nghề báo chí như một số tổ chức, cá nhân thù địch cáo buộc, rêu rao. Mọi cư dân mạng ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình trong khuôn khổ pháp luật. Một số người bị phạt tù là bởi họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam, lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam….

Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” đang trở thành khẩu hiệu hành động của xã hội Việt Nam. Theo tinh thần thượng tôn pháp luật, ở Việt Nam không ai đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Ở Việt Nam không có nhà báo nào bị bỏ tù mà chỉ có người vi phạm pháp luật bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Với số phiếu tán thành 145/189, Việt Nam đã chính thức được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025. Kết quả một lần nữa khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, đây cũng là một sự ghi nhận xứng đáng của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bảo vệ quyền con người. Đó cũng chính là thực tế sinh động để bác bỏ những mưu đồ đen tối, bẩn thỉu của những kẻ cố tình bịa đặt, rêu rao sự thật hoặc thường xuyên lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam.