Sự
lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm sự
ổn định và phát triển, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.
Tiến
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhằm
không ngừng củng cố hoàn thiện những điều kiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân
dân, thực hiện và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; không ngừng chăm lo
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trong chế độ chính trị
nhất nguyên ở nước ta, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các
văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà điều quan trọng ngày càng được thể hiện sinh
động trong cuộc sống hàng ngày, trong đời sống hiện thực của quần chúng nhân
dân.
Mọi
công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc
thông qua người đại diên do mình lựa chọn. Ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm
công dân ngày càng được đề cao. “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân
dân”. Nhân dân có quyền lập và tham gia các tổ chức xã hội; quyền tự do báo
chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật.
Sự
nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua hơn 30
năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đối
với nước ta, Điều 4, Hiến pháp hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khẳng định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước,
lãnh đạo xã hội”. Trong các kỳ Đại hội, Đảng luôn nhất quán vấn đề này. Đặc
biệt, Đại hội XI của Đảng ta đã khẳng định: Việt Nam không cần có đa đảng. Điều
khẳng định này hoàn toàn không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của Đảng ta
như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà dựa trên những cơ sở khoa học cụ
thể về cả lý luận và thực tiễn.
Thực
tế không phải lịch sử Việt Nam chưa từng có chế độ đa nguyên, đa đảng song
chính lịch sử đã sớm phủ định chế độ đó. Nhìn lại lịch sử dân tộc, đã có thời
điểm đa nguyên, đa đảng xuất hiện tại Việt Nam. Năm 1946, trước yêu cầu cách
mạng đặt lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc lên trên hết, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã tuyên bố tự giải tán và mở rộng Chính phủ dân tộc do Hồ Chủ tịch đứng đầu
với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập như Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân
đảng); Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội),… Nhưng cùng với dòng chảy
của cách mạng, những tổ chức, đảng phái đó kẻ phản động “bán nước cầu vinh”,
người xem nhẹ lợi ích quốc gia, dân tộc nên đã bị chính lịch sử và nhân dân ta
loại bỏ. Khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng cuốn
gói chạy theo, trên vũ đài chính trị nước ta duy nhất chỉ còn lại Đảng Cộng sản
Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối cách mạng khoa học,
đúng đắn đã đại diện quyền lợi của nhân dân lao động, lợi ích quốc gia, dân
tộc. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, một lần nữa lịch sử và nhân dân lại lựa
chọn Đảng ta là lực lượng chính trị có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Được sự “hà hơi, tiếp sức” của đế quốc Mỹ, nhiều đảng phái đã được bè lũ tay
sai Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam. Song do mục đích chính trị của
những đảng phái này là phá hoại tổng tuyển cử tự do, thống nhất nước nhà, đi
ngược lại lợi ích của nhân dân lao động nên nhân dân ta đã đoàn kết đấu tranh
loại bỏ những đảng phái chính trị đó. Từ sau năm 1975 đến nay, nền chính trị
nhất nguyên với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được củng cố và phát
triển toàn diện một lần nữa đã khẳng định tính tất yếu khách quan Đảng Cộng sản
Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Cùng với những mặt trái của nền kinh tế thị trường, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, chúng ta không phủ nhận ở đâu đó trong xã hội vẫn còn có những biểu hiện thiếu dân chủ nhưng đó chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, là những thiếu sót, những hạn chế cụ thể trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Không thể xem đó là bản chất của Đảng ta, không thể coi đó là bản chất của nền dân chủ mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang gắng sức xây dựng; càng không thể dựa vào những hiện tượng đó để yêu cầu thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam.
Cùng với những mặt trái của nền kinh tế thị trường, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, chúng ta không phủ nhận ở đâu đó trong xã hội vẫn còn có những biểu hiện thiếu dân chủ nhưng đó chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, là những thiếu sót, những hạn chế cụ thể trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Không thể xem đó là bản chất của Đảng ta, không thể coi đó là bản chất của nền dân chủ mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang gắng sức xây dựng; càng không thể dựa vào những hiện tượng đó để yêu cầu thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam.
Như vậy, thể chế nhất nguyên - Đảng Cộng sản Việt Nam độc
tôn lãnh đạo - ở nước ta chính là sự chọn lựa đúng đắn của lịch sử. Do đó vấn
đề đặt ra hiện nay với chúng ta không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng mà
là phải thực hiện tốt hơn nữa sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên
cơ sở đẩy mạnh cuộc vận động “xây dựng và chỉnh đốn Đảng” gắn với thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, đặc biệt thực hiện có hiệu quả
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây
dựng Đảng hiện nay” cần tiếp tục quán triệt sâu kỹ và triển khai thực hiện Nghị
quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với
thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để củng cố lòng tin của nhân dân vào
Đảng, xây dựng Đảng ta “thực sự là đạo đức, là văn minh”.
Văn Minh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét